Hoàng Long Hải, Hoàng Thi Thơ: “Hoàng Tử của Thi Ca v à Âm Nhạc ...”

Hoàng Long Hải

Hoàng Thi Thơ:

“Hoàng Tử

của Thi Ca và Âm Nhạc ...”

 

(Trích ai điếu của Phạm Duy

 trong đám tang Hoàng Thi Thơ)

           

          Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và vợ, ca sĩ Thúy Nga

  

Đọc bài “Hoàng Nguyên, Tìm Đâu Thiên Đường Đã Mất” của tôi đăng trên “Kỷ Yếu Quảng Trị”, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ nói với ông Lê Hữu Thăng người chủ trương tập kỷ yếu nầy rằng nên viết những bài giới thiệu nhân tài theo thể loại như tôi đã viết, hơn là viết theo kiểu biên niên, dễ làm chán lòng người đọc.

            Sau khi đươc Ông Lê Hữu Thăng trao đổi như vậy, tôi có ý định viết một bài về những sự kiện lớn trong cuộc đời của con người tài hoa nầy. Nhưng không may cho tôi, chưa kịp tiến hành ý định thì tôi rất bồi hồi xúc động và tiếc thương vì tin nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đột ngột qua đời. Tôi nói đột ngột vì sức khỏe của ông hồi đó chưa thấy có gì suy yếu lắm và nhìn chung, ông chưa hẵn là đến tuổi quá già.

            Dù sao, lòng đã tự hứa với lòng - bởi vì tôi cũng chẳng có hứa hẹn gì với nhạc sĩ, người tôi chưa từng đối diện, cũng như không hứa hẹn gì với Ông Lê Hữu Thăng nhưng dù mình có hứa với mình đi nữa thì cũng là một lời hứa, nên tôi đã cố gắng thực hiện.

            Hè vừa qua, sau khi nói chuyện với Anh Lê Xuân Vinh, - Sui gia với nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và với nhạc sĩ Hoàng Thi Thao - Anh Vinh có hứa sẽ cố gắng giúp tôi những gì tôi muốn biết thêm về con người tài hoa ấy, và cũng hứa cho tôi mượn tập sách nói về cuộc đời Hoàng Thi Thơ, tôi đã từ Massachusetts về Nam Cali. Sau khi tham dự ngày “Hội Ngộ Nguyễn Hoàng”, tôi nhờ một người bà con, một tu sĩ Phật Giáo, lái xe đưa tôi về nhà Anh Lê Xuân Vinh ở West Covia, California, để được Anh Lê Xuân Vinh cho biết đôi nét đại cương về những hoạt động của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ kể từ ngày ông ở chiến khu về năm 1951 cho tới khi ông qua đời.

            Cuộc đời nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ thường gây nên nhiều dư luận xôn xao, thậm chí cả giới báo chí cũng xung trận, người khen, người chê không ít.

            Có người tin theo thần học thì cho rằng đó là do số mạng ông ta; nhưng xét về mặt hành trạng của một con người, điều đó là do tự nơi ông. Ông vừa có tài, năng động, cầu tiến, có sáng kiến và thường muốn làm những gì khác người, hơn người thì làm sao không gây nên sóng gió cho chính ông và tạo dư luận trong quần chúng, trong giới báo chí được.

            Nếu như tin theo thần quyền, số mạng thì phải nói rằng không riêng gì ông mà chính bá phụ ông cũng đã là người gây nên sóng gió ngay trong triều đình Huế hồi thế kỷ 19 vậy.

            Ông Hoàng Hữu Xứng là anh của ông Hoàng Hữu Bỉnh, (thân phụ Hoàng Thi Thơ) là một người nổi tiếng trong giới quan trường của triều đình Huế. Ông là một quan chức hành chánh giỏi, người từng soạn một số sách sử cho triều đình (1), từng giữ chức tuần phủ Hà Nội (2) và là một chánh chủ khảo từng tuyển chọn cho triều đình nhiều bậc nhân tài (3).

            Người Huế ngày trước thường thích thú kể cho nhau nghe câu chuyện một năm ông Hoàng Hữu Xứng ra làm chánh chủ khảo trường thi Nghệ An (thường gọi tắt là trường Nghệ). Trước hôm thi, trường thi đăng bảng yết thị tên họ chánh, phó chủ khảo cũng như giám khảo cho sĩ tử hay. Thí sinh hôm đó chúm đầu lại xem. Vốn tự hào dân Nghệ An học giỏi, có người mai mỉa:

“Dân Quảng Trị, nhân chi sơ”.

             “Nhân chi sơ, tánh bổn thiện” là câu trong sách Mạnh Tử. Họ nói câu đó không phải để khen ông chánh chủ khảo “tánh bổn thiện” mà lại có ý cao ngạo cho rằng dân Quảng Trị, “nhân chi sơ”, trẻ mới sinh, biết gì mà đi chấm thi, làm chánh chủ khảo.

            Quan binh vào trình lại với ông; ông giận lắm. Ngày hôm sau, ông ra liền câu nói đó của Mạnh Tử làm đề thi. (Thời xưa, triều đình giao cho quan chánh chủ khảo tự ra đề thi lấy).

            Thông thường, mỗi kỳ thi chấm đậu 50 cử nhân, 100 tú tài. Kỳ thi năm đó, Hoàng Hữu Xứng đánh hỏng tuốt, chẳng ai đậu cử nhân mà cũng chẳng ai đậu tú tài. Việc thưa tới vua Tự Đức bởi vì người Nghệ làm quan không ít trong triều và trong số sĩ tử cũng có thể có người là con cháu họ nên họ ức lòng.

            Vua họp triều thần, hỏi ông Hoàng Hữu Xứng vì cớ chi mà đánh hỏng tuốt luột. Ông thưa, đại ý:

            “Muôn tâu, sĩ tử cầm cuốn sách thánh hiền mà học, trước hết là phải biết chữ “lễ”. “Tiên học lễ, hậu học văn”. Như hạ thần được lòng tín dụng của bệ hạ, cho ra làm chánh chủ khảo trường Nghệ. Sĩ tử thấy tên hạ thần bèn nói với nhau, mai mỉa rằng “Dân Quảng Trị, nhân chi sơ” thì lễ ở đâu mà biểu chấm đậu cử nhân với tú tài.”

            Vua nghe ra, chịu nhận xét ông là đúng, biết lấy lễ nghĩa làm trọng, chấp thuận kết quả kỳ thi trường Nghệ năm đó, nhưng để an ủi những người bị oan, vua ban lệnh năm sau cho mở ân khoa. (Theo lệ thì cứ ba năm mở một lần thi, năm sau cho mở kỳ thi liền thì gọi ân khoa. (4)

            Năm 1951, Hoàng Thi Thơ từ khu kháng chiến về. Việc trở về của ông làm cho người dân Quảng Trị bàn tán không ít. Chị cả ông là Bà Thông Từ, một người có danh  tiếng và quen biết nhiều ở thành phố Quảng Trị. Khi nghe tin ông về thăm quê, bà Thông Từ liền nhờ một người bạn làm sĩ quan tại Phòng Nhì quân đội viễn chinh Pháp đóng ở Quảng Trị, cho một Công An Liên Bang về làng ông (làng Bích Khê, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, cách tỉnh lỵ khoảng 5 cây số, trên đường từ thị xã Quảng Trị đi Cửa Việt) bắt Hoàng Thi Thơ.

Dĩ nhiên Việt Minh và những người ủng hộ Việt Minh không tin ông bị bắt. Họ cho rằng Hoàng Thi Thơ muốn “về với giặc” nên nhắn với gia đình giúp ông. Hành động đó của của chính quyền vùng Pháp chiếm đóng chỉ là một cuộc “hành động giả”, để đánh lừa Việt Minh để Hoàng Thi Thơ khỏi mang tiếng theo Tây.

            Khi ông về, người yêu của ông, tên Hồng, tên hiệu là Tân Nhân, quê ở Cam Lộ, cùng đi kháng chiến với ông, đang có thai. (5)

            Sau đó, từ chiến khu chuyển về bài thơ sau đây nói về việc Hoàng Thi Thơ “theo giặc” và câu chuyện tình của ông với Tân Nhân được bàn tán trong giới học sinh và những người yêu thích văn học ở Quảng Trị. Tôi xin trích lại nguyên bài:

                        Chiều qua đi Đức Thọ

                        Tao gặp Hồng

                        Hồng nói nhỏ

                        Mi đã về với giặc!

                        Thơ ơi! Có thật mi đã về với giặc?

                        Tao còn nhớ mi nói về liên lạc

                        Thăm mẹ già heo hút sáu năm sương

                        Rồi trở ra chiến đấu với anh em

                        Chưa chắc gặp tao trên núi thẳm

                        Tao chưa về trên núi thẳm

                        Tin đưa về mi đành đoạn bỏ anh em!

                        Mi còn đây Tân-Nhân

                        Mi còn đây sách vở

                        Mi còn đây bè bạn

                        Mi còn đây cây đàn

                        Mi còn đây đồng bào thân mến

                        Mi đi

                        Mi đi thật!

                        Biền biệt tháng ngày dài

                        Theo kháng chiến sáu năm dài

                                                                        mi chẳng biết

                        Sức nhân dân như sóng cuộn tràn bờ

                        Thương cho mi quá bước nửa đường xa

                        Nay cạn nghĩ một phút mi đã về với giặc

                        Mi chỉ biết cuộc sống mi còn thôi mặc

                        Để anh em đành đoạn tuyệt mi sao?!

                        Hồng cũng giận mi lắm, mắt lầm lì

                        Đường gân nổi cứ nhìn tao không nói

                        Đêm chợ Thượng bên đèn khuya le lói

                        Sao trên trời vạch lá chết nơi mô?

                        Chiều nay giữa tiệc cờ

                        Có kẻ hát bài mi

                        Lòng tao không xao xuyến

                        Như dạo nào mi còn ở bên ni

                        Em Thái hỏi

                        Có phải anh Thơ đã về với giặc?

                        Buộc lòng tao nói dối mi ơi!

                        Mẹ Dương còn nhắn gởi mấy lời

                        Về trong nớ nhớ nói Thơ về với mẹ

                        Mi về chi bên nớ?

                        Sao mi không trở lại bên ni?

                        Thơ ơi!

                        Mi có biết nước triều đang dâng mạnh

                        Đồng bào reo đoàn kết giết thực dân

                        Bộ đội xuôi rầm rộ ngập đường làng

                        Người đi về nô nức đen trắng chợ

                        Ngày mai thúc quân về giữa phố

                        Cờ hồng bay tao đi về giữa phố

                        Lúc bên hè bọn phường bay

                        Thấy tao đến mi mần răng mà nói?

(Bài nầy do nhà thơ Lê Mai Lĩnh, hiện cư ngụ ở Connecticut ghi lại cho)

                        Ngày tao đi Đức Thọ

                        Gặp Hồng, Hồng nói nhỏ

                        Thơ ơi, nghe mi về với giặc

                        Có phải mi về với giặc Thơ ơi!

                        Nhưng còn đây Tân Nhân

                        Cũng còn đây sách vở

                        Cũng còn đây cây đàn

                        Sao mi nỡ bỏ về bên nớ Thơ ơi!

                        ...

                        Ngày mai quân ta về rợp phố

                        Cờ hồng bay phất phới

                        Gặp nhau mần răng mà nói Thơ ơi!

             (Đoạn nầy do anh Ngô Quang, hiện cư ngụ ở Garden Grove, CA, ghi lại cho, chỉ có phần đầu, khác vài điểm với bài của LML ghi lại)

            (Cũng may cho Hoàng Thi Thơ, tháng 4/ 75, khi Cộng Sản chiếm Saigon thì ông cùng các nghệ sĩ của ông đang lưu diễn ở Nhật Bản, không gặp cảnh “Gặp nhau mần răng mà nói Thơ ơi!” Và một cái giấy gọi đi “Học tập cải tạo” dành cho “bọn Biệt Kích Văn Nghệ”. Người ta nói, trong đời ông, ông có nhiều cái may và tránh được nhiều điều đau đớn vì ông không chịu luồn cúi ai)

            Năm 1947, sau khi mặt trận Huế bị vỡ thì ông, một thành viên trong đoàn Tuyên Truyền Kháng Chiến Trung Bộ, trong số có nhạc sĩ Trần Hoàn và thi sĩ Chế Lan Viên chạy ra Thanh Hóa. Tại đây ông đi học lại rồi làm phóng viên cho tờ Cứu Quốc Liên Khu Tư do Lưu Quí Kỳ làm chủ nhiệm. Có lẽ thời gian nầy ông quan hệ với cô Hồng, nhân vật được nói tới trong bài thơ. Mẹ Dương là “Mẹ Chiến Sĩ”, em Thái là “Em Chiến Sĩ”, một cách dân vận của Cọng Sản. Đang ở Thanh Hóa, ông lấy cớ nhớ mẹ để về thăm và bị “Tây bắt”.

            Đầu thập niên 1990, ông về Việt Nam thăm quê hương. Tại Saigon, ông gặp lại người cũ Tân Nhân và đứa con trai mà ngày ông về vùng Quốc Gia, đứa con ấy còn nằm trong bụng mẹ. Hai cha con gặp nhau, chuyện trò, nhưng khi Hoàng Thi Thơ về Mỹ thì trên báo Tuổi Trẻ (xuất bản tại TP/ HCM) xuất hiện một bài viết nhan đề là “Cuộc Gặp Gỡ Thất Vọng” mà tác giả chính là người con trai ấy của ông.

Tôi không được đọc bài viết nầy nhưng có nghe vài người nói lại với tôi về nội dung bài viết ấy. Người ta bàn tán không ít về chữ “Thất Vọng” trong bài viết của người con trai ông.

Sao lại “Thất vọng”? Thất vọng cái gì?

Thất vọng về việc người con trai xin 20 ngàn nhưng Hoàng Thi Thơ nói rằng ông không giàu, ông chỉ cho con trai có hai ngàn. Nếu điều đó là có thật thì cuộc đời nầy thật đáng buồn? Người ta lấy tiền bạc để đo độ dày, bề sâu về tài năng và tình cảm của một người cha đối với con, hay người ấy dùng chữ “thất vọng” để tỏ lòng “Hiếu với Dân, Trung với đảng” như  “Bác” Hồ dạy, hơn là với cha ruột của mình, phủ nhận tài năng của một người mà nếu như Hoàng Thi Thơ hồi ấy (1951) không trở về vùng Quốc Gia để tài năng được phát triển thì tài năng ấy của ông sẽ khô héo và chết dần trong một chế độ độc tài như các nhà thơ, nhà văn trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, v.v...

Nếu người con hiểu được điều đó thì anh ta sẽ thấy rằng cuộc gặp gỡ ấy là một niềm vui, một vinh dự của anh ta vì, thân phụ anh, Hoàng Thi Thơ ở Miền Nam là một người tài danh rạng rỡ, hơn là giàu có hơn là một sự “thất vọng” như người con đã viết ra?

            Hồi ấy, ngay khi mới về Quảng Trị, ông cũng đã làm náo nức thành phố nhỏ nhoi hiền hòa ấy. Ông tổ chức một đêm văn nghệ ở rạp hát Julien Frère, một việc trước nay chưa từng có bao giờ.

Lúc ấy Quảng Trị đâu có nhiều tài danh, ngoài Hoàng Nguyên cũng mới ở chiến khu về như ông và một số học sinh còn nhỏ tuổi có khiếu văn nghệ mà thôi. Tuy nhiên, người ta khó quên hình ảnh Hoàng Thi Thao năm ấy. Hoàng Thi Thao hồi đó mới hơn 5 tuổi, được ông chú luyện để trình diễn violon. (Hoàng Thi Thao mới học violon được sáu tháng tại Saigon). Thính giả không hết lời khen ngợi “thần đồng” Hoàng Thi Thao. Chính Hoàng Thi Thơ dựng nên “thần đồng” ấy!

            Rồi ông bỏ Quảng Trị đi mất biệt vào Saigon!

            Ngay khi mới vào Saigon, ông xuất bản vài bản nhạc của ông, những bản nhạc có lẽ ông đã viết trong thời gian theo Việt Minh. Có thể đó là bản “Súng Ơi!”, một bản nhạc “phản chiến” đầu tiên trong suốt các cuộc chiến tranh ở Đông Dương từ 1945 đến 1975.

            Ngày 26 tháng 12 năm 1956, nhân dịp “Kỷ Niệm 60 năm trường Quốc Học”, trong đêm văn nghệ hôm đó, người bạn học của tôi, anh Tôn Thất H. biểu diễn nhảy thiết hài (Tap dancing) khá xuất sắc, nhiều người hoan hô. Đó là một lối nhảy tương đối mới, ở Huế, trước kia, ít người biết. Hỏi ra, anh bạn tôi cho biết nhân dịp hè, sau khi đậu Trung Học, anh ấy đi Saigon chơi và học nhảy với Hoàng Thi Thơ, tại một lớp dạy nhảy do ông ấy mới mở tại Saigon. Điều nầy làm tôi nhớ tới mấy bản nhạc của ông có in hình ông đang nhảy thiết hài ở trang bìa sau, quảng cáo lớp dạy nhảy do ông làm vũ sư (6). Ông ta học nhảy lúc nào rồi mở trường dạy nhảy?!

            Đó chưa phải là điều hay lắm. Năm 1958, ông xuất bản cuốn sách ông mới soạn: “Để sáng tác một bản nhạc phổ thông” dày hơn một trăm trang, khổ lớn, giá không rẻ.

Những người yêu âm nhạc và tự học, lẽ dĩ nhiên muốn soạn nhạc thì cuốn sách nói trên của ông là sách gối đầu giường. Nói rõ hơn, năm 1969, sau khi nhập ngủ và hoạt động trong lĩnh vực báo chí quân đội tại Saigon, có lần tôi gặp nhạc sĩ Hoàng Trang, cùng binh chủng. Hỏi về cuốn sách nói trên của Hoàng Thi Thơ, anh ấy nói gọn lỏn: “Không học cuốn ấy, làm sao thành nhạc sĩ được!” Tôi không có dịp hỏi Hoàng Thi Thơ rằng ông đã đào tạo bao nhiêu nhạc sĩ, ai là học trò ông, nhưng “học trò” của cuốn sách ấy thì không phải ít. Mấy chục năm sau, chưa có cuốn thứ hai ngang tầm cỡ với cuốn sách của ông đã soạn.

            Tôi còn “gặp” một điều ngạc nhiên khác nữa. Sau 1975, tình cờ đọc trong một bài báo cũ thấy tác giả kể lại một hôm ông đi ngang một căn phòng, thấy một người ngồi trong đó đang đọc một bài viết bằng tiếng Anh. Thoáng thấy người đọc là một người đàn ông, đọc đúng giọng không khác gì người Mỹ. Ngạc nhiên, ông ta hỏi người bạn ở trong căn nhà đó mới biết người đọc ấy là Hoàng Thi Thơ. Ông ta cũng tỏ ý khâm phục về “tài Anh Văn” của nhạc sĩ họ Hoàng.

            Khoảng năm 1970, khi tôi tới trường Anh Ngữ Ziên Hồng ở cuối đường Bà Huyện Thanh Quan của hai anh em ông Lê-Bá Kông và Lê-Bá Khanh để nhận sách tặng, tôi có thấy tên nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ trong danh sách giáo sư trên một tờ quảng cáo lớp học mới.

Tôi hơi ngạc nhiên nhưng không tin lắm ở “tài Anh Văn” của ông. Sau khi đọc bài báo trên, tôi tự trách mình có định kiến “Bụt nhà không thiêng”, nhưng tôi vẫn thắc mắc. Ông ta học Anh Văn vào lúc nào? Không thể là thời gian ông còn học ở trường Khải Định trước và ngay sau 1945 ở Huế. Còn khi ông đi học lại ở Vinh? Lại không thể! Cộng Sản họ buộc học tiếng Nga chớ không thể là tiếng Anh, tiếng Mỹ.

Cuối năm 1975, khi tôi còn ở trại cải tạo Trảng Lớn, Trần Đức Ước, trung úy bộ đội Cộng Sản, cán bộ quản giáo, ra lệnh cho chúng tôi là những “cải tạo viên”: “Chỉ được học tiếng Anh, cấm không được học tiếng Mỹ.” Nghe câu nói nầy, ai muốn cười cứ cười. Đất nước Việt Nam nay về tay một giai cấp lãnh đạo như thế ấy, không khóc sao được!

Hôm gặp anh Lê Xuân Vinh, bày tỏ thắc mắc ấy, anh Lê Xuân Vinh giải thích cho tôi: “Ông ấy học trong Assimil đó.” Khoảng đầu thập niên 1950, ở vùng Quốc Gia có nhập cảng bộ sách và đĩa nầy. Sách “Anglais Sans Peine” học tiếng Anh giải nghĩa bằng tiếng Pháp, cùng 40 đĩa Assimil, dùng với loại máy hát quay tay 78 vòng. Loại máy hát của Pháp có hình con chó ngồi nghe trước ống loa dài có câu “La voix de son patron”.

Ở Huế cũng có người học sách đó. Bác Đinh Hòa, cùng dạy một trường với tôi ở Huế năm 1958, kể cho tôi nghe, hồi đầu thập niên 50,  bác cùng ông Cao Xuân Lữ học Anh Văn theo kiểu “Anglais Sans Peine” như vậy. Vậy mà ít năm sau ông Cao Xuân Lữ là giáo sư Anh Văn các lớp Đệ Nhị, Đệ Nhất C của trường Khải Định. Trong lãnh vực nầy, học tiếng Anh bằng “Anglais Sans Peine” mà được một trường Anh Văn nổi tiếng như Ziên Hồng mời làm giáo sư, chỉ chừng đó, người ta thấy Hoàng Thi Thơ đã là một thiên tài.

            Thiên tài của Hoàng Thi Thơ không chỉ chừng đó. Khoảng năm 1959 hoặc 60, sau khi chế độ chính trị tương đối vững chắc, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu muốn có người đem văn nghệ Việt Nam, trước hết là phổ biến ra các nước ở vùng Đông Nam Á, sau đó mới giới thiệu tới các nước Âu-Mỹ. Ai có thể làm được việc đó? Và ai có thể tìm ra người lãnh đạo công tác văn nghệ đó?

            Nhân dịp Hoàng Thi Thơ làm đơn xin chính quyền cho thành lập một đoàn Văn Nghệ Việt Nam, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu ra lệnh Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, Giám Đốc Sở “Nghiên Cứu Chính Trị” thời đó giúp đỡ nhạc sĩ họ Hoàng. Hoàng Thi Thơ không tìm cách cầu cạnh với gia đình họ Ngô, quyền thế bậc nhất thời bấy giờ. Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, nói như người Saigon gọi ông ấy là “trùm Mật Vụ”. “Trùm mật vụ” thì biết hết mọi người, nhất là những người tiếng tăm của nhiều lĩnh vực khác nhau. Đoàn Văn Nghệ Việt Nam ra đời năm 1960, qui tụ khoảng một trăm ca nhạc sĩ, nghệ sĩ. Trưởng đoàn là nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, Phó Trưởng Đoàn là nhạc sĩ Lê Thương. Nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi, phụ tá về âm nhạc, vũ sư Trịnh Toàn phụ tá về bộ môn vũ.

Có một thắc mắc, tôi hỏi anh Lê Xuân Vinh: “Trong thời gian đó, có khi nào ông Hoàng Thi Thơ dùng văn nghệ hay các “người đẹp” trong giới văn nghệ, nói rõ hơn là các ca sĩ làm mật vụ cho chế độ hay không?”-

“Tuyệt đối không!” Anh Lê Xuân Vinh trả lời một cách chắc chắn. “Việc của ông ấy là thuần túy văn nghệ, không dính dấp gì đến chính trị.”

Tránh được chuyện ấy, Hoàng Thi Thơ phải là người có bản lĩnh và lòng yêu văn nghệ chân chính mới làm được.

Cũng theo anh Lê-Xuân Vinh và nhạc sĩ Hoàng Thi Thao, khi chế độ nhà Ngô còn tồn tại, “Đoàn Văn Nghệ Việt Nam” của ông Hoàng Thi Thơ được chính quyền hỗ trợ, cả về mặt tài chánh cũng như việc xuất ngoại lưu diễn, nhưng chỉ được trong vòng một năm mà thôi.

Dù sau 1963, không mang danh nghĩa Đoàn Văn Nghệ Việt Nam, sinh hoạt nầy vẫn được Hoàng Thi Thơ duy trì và tiếp tục “Đem chuông đi đánh xứ người” mãi đến tháng Tư- 75, khi miền Nam hoàn toàn sụp đổ.

Chỉ chừng đó thôi, người ta cũng thấy được Hoàng Thi Thơ có nhiều tài ba lỗi lạc, không chỉ riêng về mặt văn nghệ mà còn cả tài chỉ huy, điều hành, tồn tại và phát huy đoàn văn nghệ của ông, dù có hay không có chính quyền yễm trợ.

Dân tộc các nước ở Đông Á và Đông Nam Á như Nhật Bản, Trung Hoa (Đài Loan), Thái Lan, Mã Lai và cả dân chúng Paris nữa, hiểu biết và yêu mến văn nghệ Việt Nam cũng là nhờ tiếng chuông của Hoàng Thi Thơ nổi lên gióng giả ở hải ngoại. Ngay cả trong lĩnh vực vũ (múa) do Trịnh Toàn điều khiển, nhiều khi cũng được Hoàng Thi Thơ góp ý, chỉ đạo. Chính vũ sư Trịnh Toàn cũng phải công nhận tài ba của Hoàng Thi Thơ trong lĩnh vực nầy.

            Khi Đoàn Văn Nghệ Việt Nam bắt đầu công diễn ở ngoại quốc, báo chí những nơi đoàn văn nghệ đến biểu diễn và báo chí Saigon khen ngợi không ít thì tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong xuất bản ở Saigon, thuộc Cơ Quan Trung Ương của Đảng Cần Lao Nhân Vị đã kích nặng lời.

Tạp chí nầy gọi Đoàn Văn Nghệ Việt Nam là Đoàn Văn Nghệ VN. V.n. là vỡ nợ, là “Đoàn Văn Nghệ Vỡ Nợ”. Điều đó cũng dễ hiểu, làm văn nghệ, Hoàng Thi Thơ không muốn ràng buộc vào bất cứ cá nhân hay đoàn thể nào.

Văn nghệ có lĩnh vực riêng của nó, có những qui luật riêng của văn nghệ, và có tự do riêng, không phải là một món hàng thương mại, cũng không phải là một cơ quan chính trị để nhận lãnh mệnh lệnh từ cơ quan đầu não chính trị.

Văn nghệ là lãnh vực riêng của Hoàng Thi Thơ. Ông nhất quyết chống lại ai (người) hay đoàn thể (đảng) nào muốn đưa chính trị vào đó, dù người đó là ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu hay đảng Cần Lao của ông ta.

Vì không chịu ép mình vào vòng cương tỏa, Hoàng Thi Thơ và Đoàn Văn Nghệ của ông trở thành mục tiêu cho những người muốn chính trị hóa văn nghệ đánh phá dữ dội.

Khi chế độ nhà Ngô qua đi, sức yễm trợ của chính quyền không còn, đảng Cần Lao tan rã như đám bèo trôi sông, sinh hoạt văn nghệ của Hoàng Thi Thơ vẫn bình thường, như không có gì xảy ra đối với họ. Sân khấu Maxim’s vẫn là nơi biểu diễn của nhóm của ông khi trở về nước, sau những lần lưu diễn.

            Nếu như Hoàng Thi Thơ chịu cúi đầu trước các thế lực chính trị, trước những người quyền thế, nắm những chức vụ lãnh đạo đất nước, có thể ông ta sẽ được nhiều bỗng lộc hơn; chức vụ, địa vị cao hơn, giàu có hơn và rồi ông cũng trôi theo đám bọt bèo tơi tả của những năm hậu Ngô triều.

Lòng ngay thẳng, lòng yêu văn nghệ chân chính đã giữ ông khỏi cuốn trôi theo những cơn lốc chính trị, những trò đời dâu bể.

            Dưới chế độ Ngô Đình Diệm, nhiều tổ chức văn hóa, nghệ thuật được chính quyền dựng nên, hỗ trợ nhưng gặp người lãnh đạo không có tài cao, những tổ chức đó đã rệu rã sau khi chế độ sụp đổ. “Tinh Việt Văn Đoàn” là một ví dụ. Đó là một văn đoàn do ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu nặn ra.

Tinh Việt Văn Đoàn sau khi nghiên cứu và họp bàn, bèn trao giải thưởng cho cuốn “Khổng Giáo” của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thọ. Khi hay tin, Bác Sĩ Nguyễn Văn Thọ tuyên bố một câu động trời, rằng những người trong Tinh Việt Văn Đoàn không đủ khả năng để hiểu sách của ông nên không thể trao giải thưởng cho ông được.

Thiên hạ ai cũng thấy buồn cười! Mấy năm trước đây, cụ Mỹ Tín, (nguyên Giáo Sư Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Saigon) còn sinh tiền, khi tôi hỏi cụ về việc ngày xưa ông tham gia Tinh Việt Văn Đoàn, ông nói:

“Để đánh phá Phật Giáo, họ giao cho tôi nhiệm vụ nghiên cứu đạo Phật.” Tôi hỏi: “Có phải vì vậy mà cụ trở thành một Thiền gia?” Ông ấy cười, nói gượng: “Trong các tôn giáo khác, trong Thiên Chúa Giáo cũng có Thiền, không riêng gì đạo Phật!” Tôi không đồng ý, nói: “Tuy tôi không phải là người nghiên cứu về Thiền như cụ, nhưng theo tôi hiểu, chữ Thiền mà người Tây Phương dịch là Méditation hay Zen, đối với người Việt Nam, chữ ấy dùng để gọi đạo Phật hay nơi tu hành, nơi thờ Phật của người theo đạo Phật. Vì vậy, cửa chùa, người ta cũng gọi là “Cửa Thiền”. Ba Giai có viết câu thơ “Ở chốn Thiền môn có một thầy”. Thiền môn là cửa Thiền, là cửa Phật vậy. Như  thế, “thiền” gốc từ đạo Phật chứ!” Cụ Mỹ Tín không trả lời tôi về ý kiến đó.

            Ngay sau ngày đảo chánh 1 tháng 11- 63, không ai còn nhắc lại, có thể cũng chẳng ai còn nhớ có một tổ chức văn hóa, văn học có tên gọi là Tinh Việt Văn Đoàn cũng như chẳng ai biết những người từng theo nhà Ngô, qua Paris, không phải để “đem chuông đi đánh xứ người”, mà để đăng đàn diễn thuyết, bênh vực cho chế độ độc tài ấy như các ông dân biểu Hà Như.C., Nguyễn Phương Th., thì bị dân Việt ở Paris ném trứng thối và cứt ngựa, thì nay không biết họ trôi giạt về đâu, sống chết thế nào. Riêng Hoàng Thi Thơ, khi lập Đoàn Văn Nghệ Việt Nam, có nhận sự yễm trợ của chính quyền, nhưng không chịu làm khuyển mã nên thoát được cảnh dậu đổ bìm leo. Điều ấy làm cho nhiều người ngưỡng mộ và khâm phục ông thật là đúng vậy.

            Nhìn chung, Hoàng Thi Thơ có rất nhiều tài mà tài nào ông cũng đạt đến trình độ cao, vượt người, hơn người, để lại những thành tích vẻ vang, sáng chói, không chỉ riêng cho cá nhân ông mà cho cả nền văn nghệ Việt Nam nữa.

Ngay cả trong lãnh vực cải lương không thuộc sở trường của ông, nhưng mỗi khi có một đoàn cải lương như Thanh Minh - Thanh Nga, Kim Chung lưu diễn hải ngoại ông đều được các cơ quan đỡ đầu cho các cuộc lưu diễn nói trên như Bộ Thông Tin, Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hoá, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, mời ông làm trưởng đoàn, dìu dắt và chỉ huy để cuộc lưu diễn được thành công tôt đẹp.

            Ở miền Nam, trước 1975, chỉ có những ban nhạc, ban ca nhạc, ca vũ nhạc hay các đoàn cải lương. Hoàng Thi Thơ là người đầu tiên kết hợp nhiều bộ môn như ca, vũ, nhạc, kịch cùng trình diễn một lúc trên sân khấu. Đó là một sự sáng tạo rất đặc sắc, chỉ những người vừa có tài, vừa có bản lĩnh, can đảm và táo bạo như Hoàng Thi Thơ mới dám làm. Ông đã làm và đã thành công lớn. Khi vở “Máu Hồng Sử Xanh” được trình diễn, khán giả hoan hô nhiệt liệt.

            Tiếc một điều, sau khi mất nước, môi trường hoạt động không còn thuận lợi như khi còn quê nhà, nên trong những năm lưu lạc xứ người, vừa vì hoàn cảnh đất nước, vừa vì tuổi càng lúc càng cao, ngôi sao Bắc Đẩu Hoàng Thi Thơ không còn sáng rực như khi còn ở quê nhà.

Năm 1976, ông cố gắng qui tụ một số ca nhạc sĩ và nghệ sĩ, lưu diễn Âu Châu một lần nữa. Nhưng rồi nhiều khó khăn về thủ tục khó vượt qua, như vấn đề quốc tịch, di trú (Phần đông nghệ sĩ là người tỵ nạn, ngoài tờ giấy I-94, họ không có gì thêm, việc di chuyển từ Mỹ qua châu Âu, từ quốc gia nầy đến quốc gia khác rất khó khăn) nên sinh hoạt văn nghệ không thể kéo dài được.

Hơn hai mươi năm (1951-75) hoạt động văn nghệ ở Saigon, ở toàn cõi miền Nam Việt Nam cũng như ở Tokyo, Taiwan, Paris, ở những nơi nầy Việt Kiều không đông, ngoại trừ Vạn Tượng là nơi sinh sống của nhiều người Việt, họ đã đến thăm viếng, ủng hộ hoan hô, và tự hào về công việc của đoàn; nhìn chung, công trình văn nghệ của ông là một vết son sáng chói trong dòng lịch sử văn hóa dân tộc.

Mối duyên tình với danh ca Thúy Nga

           Năm 1955, ông Tăng Duyệt, giám đốc nhà sách Tân Hoa và cũng là xuất bản nhạc Tinh Hoa tổ chức một đêm văn nghệ tại rạp Ciné Châu Tinh Huế, mời Thúy Nga từ Saigon ra tham gia cùng với một số ca nhạc sĩ khác, trong đó có Hoàng Thi Thao, cháu gọi bằng chú của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Trong đêm văn nghệ nầy, Thúy Nga được khán thính gỉa Huế hoan nghênh nhiệt liệt. Điều nầy rất hiển nhiên vì trước đó, năm 1954, Thúy Nga đã từng chiếm giải nhất cuộc thi “Tuyển Lựa Ca Sĩ” do đài Pháp-Á tổ chức (hằng tuần) tại rạp Norodom. Điểm đặc biệt là Thúy Nga vừa hát vừa tự đệm đàn phong cầm cho cô.

            Liền sau đó, Hoàng Thi Thơ đã làm quen và thường đến nhà Thúy Nga để luyện thêm nghề nghiệp cho Thúy Nga.

            Mặc dù Thúy Nga đã thành công ngay từ lúc đầu, lúc cô chưa làm quen với Hoàng Thi Thơ, nhưng dĩ nhiên qua sự quan hệ của hai người, tài năng của Thúy Nga càng ngày càng phát triển thêm, được nhiều khán thính giả yêu mến hơn.

            Điều quan trọng hơn nữa, mối duyên văn nghệ ban đầu đã biến thành tình yêu và hai người tiến tới hôn nhơn sau đó không lâu. Cuộc tình kéo dài cho tới khi Hoàng Thi Thơ qua đời. Cuộc sống tình nghĩa giữa hai vợ chồng rất đậm đà sâu sắc, đến nỗi sau nầy, mỗi khi có ai nhắc đến Hoàng Thi Thơ, Thúy Nga không cầm được nước mắt, nghẹn ngào. Đó chính là trở ngại lớn cho tác giả khi muốn tìm hiểu thêm về tài năng và sự nghiệp của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ.

            Một nghệ sĩ tài danh như Hoàng Thi Thơ, khó tránh khỏi những mối tình lãng mạn, như với PHH, ngoài “Dấu Giày In Trên Cát”, ông còn để lại cho người tình của ông và cả cho đời một Tuyển Tập Tình Khúc gồm hơn mười bài có tên gọi là “Tình Hồng” trong đó có những tình khúc như “Diễm Tình”, “Đêm Buồn”, “Niềm Đau Của Cát”, “Lời Thề Của Loài Hoa Trắng”, “Một lần Cuối” (7).

            Dĩ nhiên, “Ớt nào mà ớt không cay”. Chính Thúy Nga nhờ ngay người cháu của Hoàng Thi Thơ là Hoàng Thi Thao đi bắt ghen hộ. Tuy nhiên, một nghệ sĩ còn cảm thông một nghệ sĩ, huống gì nghệ sĩ đó còn tình chú cháu. Việc bắt ghen bất thành!

            Trong sinh hoạt văn nghệ, Hoàng Thi Thơ luôn luôn đặt trọng tâm vào nghệ thuật. Vì vậy, những cảnh trí minh họa cho các bài hát trên truyền hình, Hoàng Thi Thơ hoàn toàn không nhắm vào mục đích vợ ông (Thúy Nga) hay một người nào khác. Đó chỉ là những cảnh trí phụ họa cho bài hát của ca sĩ mà ông đã chọn.

            Trong những năm đầu sau khi Hoàng Thi Thơ cưới vợ, ông viết khá nhiều bài lấy đề tài từ tình yêu của ông với Thúy Nga, chẳng hạn như “Gặp Nhau”, “Ai Buồn Hơn Ai?!”, “Phú Đầu Tiên”, “Hình Ảnh Người Em Không Đợi”, v.v…

           Bà Thúy Nga rất tôn trọng chồng và gia đình chồng bởi vì cô biết chồng cô, ngoại trừ là một người tài hoa, còn là một “cậu ấm”, thân phụ làm quan to trong triều đình Huế thời tiền chiến. Quê chồng có một cái tên hay “Bích Khê” (Khe Ngọc), nhưng đó là một làng nghèo, trồng khoai, trồng dâu, nuôi tằm (Vườn khoai níu chân anh, vườn dâu níu tay anh - Anh đi một sớm thu buồn - Các Anh Về -) của một tỉnh nghèo (Tỉnh Quảng Trị), Thúy Nga tỏ ra có tình cảm gắn bó với quê chồng. Khi còn hòa bình (1959), Thúy Nga về tận quê chồng ở lại nhiều ngày trong căn nhà của thân phụ Hoàng Thi Thơ để lại.

            Tinh thần gia đình là truyền thống trong những gia đình Việt Nam có văn hóa cao, vì vậy, Hoàng Thi Thơ và Thúy Nga rất tự hào là đã nuôi dạy hai người cháu gọi ông bà bằng chú thím thành tài.

            Đầu tiên, năm 1951, từ Vinh về thăm quê, mục đích Hoàng Thi Thơ chỉ là muốn gia đình ông giúp đỡ để ông tiếp tục học đại học. Nhưng gia đình ông đã khuyên nhủ và giữ ông lại để trở về sinh sống tại vùng Quốc Gia. Người anh cả của ông là thân phụ của Hoàng Thi Thao khuyến khích và giúp đỡ Hoàng Thi Thơ cùng cháu là Hoàng Thi Thao vào Saigon hồi đầu tháng Giêng năm 1952, hàng tháng gởi tiền chu cấp cho cả hai chú cháu. Năm 1953, Hoàng Thi Thơ nhận nuôi thêm một người cháu nữa là Hoàng Kiều vào Saigon ăn học. Đối với bà con bên chồng, mỗi khi có người từ miền Trung vào thăm, hai vợ chồng Hoàng Thi Thơ ân cần tiếp đón niềm nở.

 

            Ngày 17 tháng 3 năm 1975, Hoàng Thi Thao tiễn chú cùng nghệ sĩ, với tính cách là một đoàn văn nghệ tư nhân, không còn mang danh nghĩa đoàn Văn Nghệ Việt Nam như trước kia nữa, lên đường đi trình diễn ở Tokyo, Nhật Bản. Trong khi đoàn văn nghệ đang lưu diễn ở Nhật Bản thì xảy ra biến cố tháng Tư/ 1975.

            Khi đoàn còn ở Tokyo thì tình hình chiến sự miền Nam diễn tiến rất mau. Hoàng Thi Thơ hết sức lo lắng cho các con, nhiều lần gởi thư về, bày tỏ điều lo lắng cho bốn người con của ông với Hoàng Thi Thao và nhắc nhở Hoàng Thi Thao, khi rời Việt Nam, đừng quên mang các con của ông theo. Cuối cùng, chính Hoàng Thi Thao bị ngồi tù và bị Công An gọi lên thẩm vấn nhiều lần vì những bức thư nầy của Hoàng Thi Thơ.

            Năm 1975, Hoàng Kiều đã mang được hai người con của ông là Hoàng Thi Thi và Hoàng Thi Thu di tản. Còn lại một người con gái và người con trai út thì rời Việt Nam qua Pháp theo chương trình đoàn tụ gia đình. Nhờ sự vận động ráo riết của ông, tất cả vợ chồng con cái sau đó được sum họp tại Hoa Kỳ.

            Trong số các nghệ sĩ qua trình diễn tại Tokyo lần đó, có nghệ sĩ Mỹ Phương. Chồng Mỹ Phương là Lưu Hồng không đi được vì cần ở lại trông coi một số vũ công còn lại. Vì vậy, sau 30 tháng Tư/ 1975, khán giả Việt Nam thấy có một số vũ công mà hầu hết trước kia làm việc cho nhà hàng Maxim’s cũ trình diễn một vài bản nhạc mới trên TV. Sự kiện nầy, mặc dầu các nhà phê bình văn nghệ miền Bắc đánh giá cao tài năng của họ, nhưng việc trình diễn kéo dài không lâu vì những quan điểm khác biệt về văn nghệ cũng như sự đãi ngộ không tương xứng của nhà cầm quyền Cộng Sản đối với nghệ sĩ.

            Tất cả các nghệ sĩ của chuyến lưu diễn cuối cùng năm 1975, không có ai quay trở lại quê nhà. Một số được định cư tại Mỹ, cũng có người ở lại Nhật  Bản.

            Mặc dù bị suy tim (Heart attack) hai lần, lần thứ hai, ông mới chịu đi bệnh viện và chịu để cho bác sĩ mổ. Tuy nhiên, tim của ông đã bị chấn thương mạnh (damage), bệnh ông không thể lành hẵn được. Hằng đêm, ông phải ngủ ngồi hoặc chêm gối rất cao dưới đầu và cổ. Dĩ nhiên, ông bị chứng khó ngủ, phải ăn kiêng, sức khỏe suy giảm và đi lại rất khó khăn. Dù vậy sinh hoạt văn nghệ của ông không vì thế mà kém đi.

            Sau khi bị mổ tim, ông vẫn hoạt động với Trung Tâm Thúy Nga Paris, cho ra đời hai cuốn Video Hoàng Thi Thơ, tiếp tục tổ chức các buổi Đại Nhạc Hội trình diễn tại nhiều thành phố lớn khắp thế giới như Paris, Oslo (Na-Uy), Washington DC. Niagara (Canada).

            Hoàng Thi Thơ mất vào tháng 9 năm 2001 tại nhà riêng ở Glendale, California.

            Đêm trước, ông vẫn còn bày tỏ ý muốn thèm những món ăn quê hương như cá kho khô, tôm chua thịt luộc khi ngồi nói chuyện với vợ và con gái.

            Sáng hôm sau, khi Thúy Nga vào phòng ông định hỏi ông muốn ăn những món ăn gì thì ông đã lặng lẽ ra đi rồi!

            Tang lễ ông được cử hành trọng thể với sự tham dự của hàng ngàn người thuộc giới văn nghệ sĩ cũng như đồng bào đã yêu mến ông. Lúc hạ huyệt, Phạm Duy đọc một bài điếu văn chưa từng thấy, rất cảm động, ca ngợi ông là “Hoàng Thi Thơ, hoàng tử của Thi Ca - Âm Nhạc”.

Ông được an táng theo ý muốn là tại “Vườn Vĩnh Cửu”, thành phố Wesminster, California.

            Ông ra đi với nhiều ước nguyện chưa thành, mặc dù ông đã một đời đóng góp lớn lao cho văn nghệ Việt Nam. Ông muốn sáng tác thêm nhiều vở nhạc kịch, nhạc cảnh, ca múa, với đầy đủ tiết mục bi hài, các ca khúc và trường ca hơn nữa để cho nền văn nghệ Việt Nam được phong phú hơn, tươi đẹp hơn.

            Năm mươi năm, một đời cho Thi Ca và Âm Nhạc, ông là một nghệ sĩ sáng chói nhất hậu bán thế kỷ 20 của văn nghệ Việt Nam, trong nhiều lĩnh vực từ trình diễn ca, nhạc, vũ, kịch, cho tới tổ chức, chỉ huy và trình diễn ở trong nước cũng như hải ngoại. Dân tộc các nước Đông Á và Đông Nam Á, các nước Tây Âu cũng như Bắc Âu biết tới ca nhạc kịch Việt Nam cũng chính là nhờ Hoàng Thi Thơ “đem chuông sang đánh xứ người”. Không những đối với đồng bào trong nước, mà dân tộc các nước ông cùng đoàn văn nghệ của ông lưu diễn dành cho đoàn văn nghệ của ông và đặc biệt cho chính ông nhiều lòng cảm phục và yêu mến. Dư âm của những ca khúc và âm nhạc còn lắng đọng mãi trong lòng người, trước kia, bây giờ cũng như mai sau, mặc dù ông đã ra người thiên cổ.

            Ông ra đi với nhiều ước vọng chưa thành. Phải chi đất nước ta không nhiều binh biến, không có núi xương sông máu mà được hòa bình an lạc, trở thành một môi trường màu mỡ cho những đóa hoa văn nghệ phát triển tốt tươi, Hoàng Thi Thơ không phải sống đời vong quốc, thì tài nghệ ông ông còn phát triển cao hơn nữa, rộng hơn nữa, chứ đâu phải chỉ có chừng đó mà thôi. Trong viễn tượng đó, ông không chỉ là Một Vì Sao Sáng mà còn là một vì Bắc Đẩu trên vòm trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.   

 hoànglonghải

           

(1) Đại Nam Quốc Cương Giới Vụng Biên, Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Ngũ Kỳ, là những cuốn sách của Triều Đình Huế có Hoàng Hữu Xứng chủ trương hay tham gia biên soạn.       

            (2) Ông cùng Hoàng Diệu xây dựng đồn lũy chống Pháp khi Pháp đánh thành Hà Nội. Khi thành thất thủ, Hoàng Diệu ra Văn Miếu thắt cổ tự vẫn, còn ông thì bị giặc bắt, nhịn ăn và chưỡi giặc thậm tệ.

            (3) Vua Tự Đức khen ông là “con tuấn mã trong hàng cử nhân”. Ông từng chấm đậu tiến sĩ cho những người về sau rất rạng danh như Vũ Phạm Hàm, Đệ Nhất Giáp Tiến Sĩ, Nguyễn Thương Hiền và Chu Mạnh Trinh, cả hai đều đậu Đệ Nhị Giáp Tiến Sĩ. Khoa thi Hội năm 1898, đời Thành Thái, ông chấm đậu 5 tiến sĩ Quảng Nam, người đời thường gọi là “Ngũ phụng tề phi.” Gồm có: Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn, Dương Hiển Tiến và Ngô Tuân.

            (4) Trần Tế Xương thi mãi chỉ đậu có Tú Tài, không đậu cử nhân được, nên có viết câu thơ “Trên bảng năm mươi thầy cử đội”. Nếu giỏi lắm thì Trần Tế Xương chi đậu thứ 51, phía trên tên của ông là 50 ông chử nhân.

            (5) Năm 1945, vì có sự cải đổi chương trình giáo dục của ông Hoàng Xuân Hãn, Bộ Trưởng Giáo Dục trong Chính Phủ Trần Trọng Kim, lấy tiếng Việt làm chuyển ngữ, hai kỳ thi Tú Tài I và Tú Tài II được nhập chung làm một nên những người đậu Tú Tài năm đó chỉ thi một lần gọi chung là Tú Tài mà thôi. Người Huế thường gọi đó là Tú Tài “Ân Khoa”.

            (6) Cô Hồng, tên hiệu là Tân Nhân, người yêu của Hoàng Thi Thơ. Cô ta nguyên là một nữ học sinh, con của ông Trương Công Tài là một người giàu có ở Cam Lộ (Quảng Trị). Ba anh em ông Trương Công Cương, Trương Công Hy và Trương Công Tài, khoảng đầu thập niên 1950, thành lập một công ty xe tải vận chuyển hàng hóa, lấy tên là hãng “Trương Công Huynh Đệ”.

            (7) Học với Hoàng Thi Thơ xong, Tôn Thất H. làm “sư phụ” cho nhiều người bạn học, trong đó có Anh Lương Thúc Trình. Trình, bạn tôi, lại làm “sư phụ” cho tôi. Xem ra, tôi là “thế hệ thứ ba” trong đám học trò học clakette với Hoàng Thi Thơ.

            (8) Bài “Một Lần Cuối” trở thành một huyền thoại của những người yêu nhạc trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa cũng như người miền Nam. Đêm trước ngày xuất phát cuộc “Hành Quân Lam Sơn 719”, tấn công qua Hạ Lào để nhằm cắt đứt con đường tiếp tế của Cộng Sản Bắc Việt xâm nhập Nam Việt Nam, có tên thường gọi là Đường Mòn Hồ Chí Minh, trong buổi dạ tiệc, Đại Tá Nhật, Trưởng Phòng Hành Quân Quân Đoàn I, đã lên sân khấu trình diễn bài “Một Lần Cuối” của Hoàng Thi Thơ. Chỉ trưa ngày hôm sau, khi đang bay máy bay trực thăng ở Khe Sanh, chỉ huy cuộc tiến quân thì Đại Tá Nhật bị tử nạn vì máy bay bị quân Cộng Sản Bắc Việt bắn rơi. Cái chết của Đại Tá Nhật để lại nhiều khó khăn cho cuộc hành quân vì chính ông là “linh hồn” của cuộc hành quân đó, ngay từ lúc bắt đầu soạn thảo kế hoạch. Và “Một Lần Cuối” cũng có nghĩa là một lời trối trăn cuối cùng của một quân nhân có tâm hồn văn nghệ.

   Cảm tạ:

Tôi xin chân thành cảm tạ anh Lê Xuân Vinh, một người bạn cũ của tôi và “sui gia” với Hoàng Thi Thơ - Thúy Nga, cùng nhạc sĩ Hoàng Thi Thao, một người quen biết cũ, gọi Hoàng Thi Thơ bằng chú ruột, đã cho tôi những tin tức quí báu để hoàn tất bài viết nầy.

 

  hoànglonghải(tuệchương)

NGÔ THẾ VINH, Phân Tích Ảnh Hưởng Xung Đột Biên Giới Thái Lan – Cam Bốt
Chíu Thích Hình: Tướng Nattaphon Narkphanit, Bộ trưởng Quốc phòng Thái Lan (bên phải), bắt tay người đồng cấp Cam Bốt là Tướng Tea Seiha sau khi ký tuyên bố chung trong cuộc họp của Ủy ban Biên giới Chung Thái Lan– Cam Bốt (GBC) tại cửa khẩu biên giới thường trực Ban Phak Khat, tỉnh Chanthaburi, vào thứ Bảy 27.12.2025. (Ảnh: Facebook Army Military Force)
Tòa soạn
Do công ty Saigon News LLC thực hiện
Editor-in-chief: HOÀNG DƯỢC THẢO
Director of Marketing: ANDY TRƯƠNG
Với sự cộng tác của: LÊ TẤT ĐIỀU, HOÀNG NGỌC NGUYÊN, NGUYỄN THỊ CỎ MAY, TRẦN TRỌNG HẢI.

Email: saigonweeklyonline@gmail.com

Thư từ bài vở: 702-389-5729

Quảng cáo: 702-630-0234

702-426-4404

Hotline: 702-426-4404

back top