Hoàng Ngọc Nguyên
ĐÓN XUÂN NÀY, NHỚ XUÂN XƯA
Một baby-doomer và cháu nội baby dreamer
Thế hệ “baby boom” của nước Mỹ và “baby doom” của nước Việt tuy được sinh ra cùng thời nhưng nghịch hướng. Baby boom của người Mỹ là do hào hứng vì chiến thắng trong Đệ nhị Thế chiến cho nên người ta mạnh dạn sinh con đẻ cháu. Trái lại, “baby doom” của người Việt chúng ta là tác động của những đau thương, mất mát và chia lìa trong cuộc chiến chống Pháp cho nên những người yêu thương nhau vẫn ngại ngùng trước trách nhiệm với thế hệ mai sau. May mà năm 1954 còn có Chiến thắng Điện Biên Phủ, nhờ thế chiến tranh tạm thời chấm dứt với cái giá phải trả là đất nước tạm chia căt cho đến khi Cộng Sản Bắc Việt mở cuộc chiến tồi tệ phi nhân đánh vào Miền Nam ruột thịt sáu năm sau...
Và nay những người thuộc thế hệ “baby-doom” cha anh còn lại, nay đã trên 80, đón mùa xuân đang đến và nhớ lại những mùa xuân đã qua, những cái Tết trước đây còn đọng lại trong tâm tưởng cho dù ký ức đã nhiều phần phôi pha. Sống với quá khứ cũng là một cách kéo dài hiện tại cho dù cái khó khăn của trí nhớ chính là thử thách muôn đời của tuổi già cho đến khi nằm xuống. Hãy tưởng tượng một cuộc sống không có những kỷ niệm...
Như kỷ niệm nhớ đời Tết Mậu Thân.
Tết Mậu Thân làm thay đổi tất cả. Cái Tết đầu tiên có một chỗ sâu đậm nhất trong tâm trí của những người còn nhớ chính là Tết Mậu Thân – một cái Tết quan trọng nhất không chỉ vì bước đầu của thế hệ “baby doom” có lẽ bắt đầu từ đó, mà cũng là mốc dấu cúa một thiên sử mất nước hằn sâu trong tâtm tư của thế hệ đang gần đất xa trời này.
Ngày mùng một Tết năm Mậu Thân đó, người dân thủ đô Saigon vẫn thấy ít nhiều bất an vì biết rằng đất nườc đang còn có chiến tranh, một cuộc chiến tuy mang tiếng Việt Cộng Miền Nam nổi loạn nhưng thực chất là do Cộng Sản Hà Nội chủ xướng. Trong 3-4 năm qua (1964-1968), với sự nhập cuộc chính thức của quân đội Mỹ sau biến cố Vịnh Hạ Long vào tháng tám năm 1964, Việt Cộng đã bị đánh tan tác trên bốn vùng chiến thuật của chiến trường Miền Nam (từ Quảng Trị đến Cà Mau). Miền Bắc đã quyết định hy sinh cuộc sống của người dân, bỏ luống đồng ruộng, nhà máy không có người trông nom để dồn hết nhân lực cho chiến tranh, “Bác” còn an ủi: “Còn non còn nước còn người; Tháng giặc Mỹ ta xây dựng hơn mười ngày nay”. Bởi thế, với sự chủ động của quân Miền Bắc tham chiến, hy sinh cho đến người bộ đội cuối cùng của “Bác”, Việt Cộng đã phải phát động chiến dịch Tết Mậu Thân trên cả Miền Nam mà Saigon và Huế là hai trọng điểm. Quân Mỹ (Tướng William Westmoreland) và chính quyền Saigon có thể không bị bất ngờ nhưng vẫn thiếu chuẩn bị (Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu “có cũng như không”). Nhưng người dân Miên Nam thì bị bất ngờ hòan toàn – nhất là người dân Saigon vốn chỉ biết Việt Cộng quen trò khủng bố mà thôi nhưng không nghĩ rằng một lực lượng hùng hậu từ Miền Bắc đang nhắm tràn vào Miền Nam. Tuy phía Cộng Sản đã mất ít nhất 130.000 lính trong cuộc chiến Mâu Thân, chính cái Tết này đã làm thay đổi cuộc diện cuộc chiến – ít nhất dẫn đến “hòa đàm” làm cho người dân Miền Nam cuối cùng mất nước 50 năm nay.
Ngày đó, tôi còn là một sinh viên có một niềm tin mạnh mẽ vào chế độ dân chủ ở Miền Nam cùng sự hỗ trợ quân sự vô giới hạn của Hoa Kỳ, nước lãnh đạo Thế giới Tự do. Thế nhưng những tiếng súng AK-47 của VC vang lên vào ngày mùng một Tết nguyên đán làm cho người dân Saigon ngỡ ngàng. Tuy nhiên, quân đội Saigon cũng làm chủ tình hình nhanh chóng, và ngọai trừ một vài nơi tiếp giáp Saigon và các tỉnh như Long An và Tây Ninh, những nơi khác khá an bình. Thiệt hại thực sự chính là dư luận Mỹ. Công luận Mỹ thất vọng, lo ngại; phía phản chiến lại có thêm cớ để xuống đường đòi Mỹ rút quân.
Nhớ chuyện ngày xưa, phố xá khu vực quân 1, quận 2, Phú Nhuận, Tân Định, Gia Định khá mau chóng yên ắng, cho nên tôi mạo hiểm lấy xe gắn máy chạy từ đường Trương Minh Giảng tới khu vực qua Ngã tư Phú Nhuận trên đường Võ Di Nguy, gần cổng xe lửa số 10 (?) và trước mặt một nhà thờ Tin Lành và Chợ Nhỏ để xem gia đình người yêu an nguy thế nào. Đường xá vắng tanh, quân Saigon trấn đóng một vài cứ điểm kiểm soát. Không phải là chuyện “Anh đến thăm em đêm ba mươi”, nhưng ngày mùng hai này đúng là một lời cầu hôn và chưa đến hai năm sau đã có lễ cưới. Ngoài ra, nhờ chuyến đi này mà tôi bắt đầu mở mắt về cuộc chiến này: Việt Cộng phi nhân, vô nhân đạo, tàn bạo ngoài sự tưởng tượng của tôi. Người ta lợi dụng ba ngày Tết vừa thiêng liêng vừa vui chơi của người dân để đột kích quân thù Xem chừng không có một giải pháp nào để có sự thỏa hiệp giữa hai bên khi kẻ địch đã quyết tâm “giải phóng”, lợi dụng sinh mệnh và an lạc của người dân để dùng mọi thủ đọan để cướp chính quyền.
Điều vô đạo, vô lương tâm của chính quyền Nixon là cho dù người Mỹ đã biết bộ mặt thật của Việt Cộng sau cuộc tổng tấn công Mậu Thân, họ vẫn buộc Saigon phải tham dự hòa đàm vói bên sát nhân vào năm 1969, và sau khi Nixon gặp Mao Trạch Đông tại Bắc Kinh vào giua năm 1972 sau khi đã đến tận Mạc Tư Khoa gặp Tổng bí thư Leonid Brehznev năm 1971. Đầu năm 1973, thì Saigon phải ký Hiệp định Paris, chấp nhận thỏa hiệp ngưng bắn để cho Nixon hoàn thành sứ mệnh với tham vọng đắc cử thêm một nhiêm kỳ nưa. Trời cao có mắt (ông Tổng thống Donald Trump đương nhiệm có thể và có lý do để không tin điều này) cho nên Nixon bị vụ Watergate và phải từ chức năm 1974 (Trump cũng đang bị vụ hồ sơ Jeffrey Epstein nhưng nhất quyết không chịu nhận tội). Sai lầm chết người của chế độ Saigon là không dứt khoát với Mỹ, và chế độ dân chủ vì một phía đối lập tay sai nằm vùng đã bất lực không vận động cho người dân hiểu để chuẩn bị cho một cuộc chiến sinh tử lâu dài và có thể phải đánh thẳng ra Miền Bắc.
Một cái Tết đáng nhớ khác là năm 1972 là cái Tết đầu tiên tôi phải xa nhà, xa vợ, xa hai con còn rất nhỏ là Thuận Giao và Ngọc Hân. Khi còn là sinh viên Cao học, tôi đã có dịp thụ huấn quân sự chín tuần tại Trung tâm Huấn luyện Quang Trung trước khi bước vào niên học mới 1969. Tuy nhiên, sau này, khi tốt nghiệp trường Quốc gia Hành chánh và sau khi đươc biệt phái về Bộ Kinh tế, tôi mới đươc động viên chính thức vào quân đội và được huấn luyện chính thức tại Trường Bộ binh Thủ Đức. Khóa 1/72. Khi ra trường, tôi đeo lon Chuân úy, là “quân hàm” khi bước vào trại “học tâp cải tạo” của Cộng Sản vào tháng sáu năm 1975 với danh hiệu “ngụy quân, ngụy quyền” .
Đã được thụ huấn quân sự bán chính thức vài lần trước khi vào quân trường Thủ Đức, tôi không lạ gì cách sống, cách ăn ở tại một quân trường. Cho đến nay, tôi vẫn nhớ Đại úy Lưu Quảng Đại, đại đội trưởng của Đại đội 11 của tôi. Một quân nhân mẫu mực về hai mặt kỷ luật và tình người. Tôi bước vào Thủ Đức không phải với nỗi lo về sự an tòan của mình, bởi vì biết mình sẽ được biệt phái, mà thực tâm là nỗi lo vì sự an toàn của đất nước. Trong hai năm 1971-72 đó, VC đang gia tăng áp lực lên các chiến trường, vì biết Mỹ đang tính triệt thoái và Hà Nội đang muốn chứng minh Mỹ quyết định đúng khi rút quân vì chế độ Miền Nam sẽ không cầm cự nổi khi không còn Mỹ. Tuy nhiên, quân trường Thủ Đức cho tôi niềm tin.
Miển Bắc xem chừng đang tung toàn lực cho cuộc chiến xâm lăng này sau khi lực lượng MTGP của Nguyễn Hũu Thọ chi có tiếng (bù nhìn) mà không có miếng đã hy sinh đến người “giải phóng Miên Nam” cuối cùng. Miền Bắc đã bỏ rơi cuộc sống thêm kham khổ của người dân quê cũng như dân thành thị ở Miền Bắc, buộc họ phải sống “với sức người sỏi đá cũng thành cơm” để dồn sức tất cả vào cuộc chiến ép buộc tất cả nam nữ, già trẻ, lớn bé... Vũ trang có sẵn Nga Tàu đổ vào nước Cộng Sản anh em này xem VN như một chiến trường trắc nghiệm.
Trong khi đó quân đội của chúng ta có nhiều điểm phần nào đáng tự hào và tạo được sự tin tưởng. Huấn luyện tương đối có bài bản và đầy đủ. Có kỷ luật và tinh thần, ý chí. Càng ngày tôi càng hiểu: Nguy cơ cho chúng ta không phải là Mỹ rút quân, mà ở quân số và quân viện.
Cái Tết năm đó, vì tôi chỉ mới vào quân trường khoảng một tuần, cho nên gia đình chưa được đi thăm. Rộn ràng với cuộc sống mới trong quân trường, sinh viên sĩ quan chúng tôi vẫn thao thức không ngủ vì những nỗi nhớ nhung, lo âu cho gia đình, vợ con trong một tình thế đất nước và kinh tế ngày càng khó khăn.
Một cái Tết cô đơn khác: Đầu năm 1974, tôi đang theo học một chương trình phát triển kinh tế tại những nước kém mở mang (economic deelopment in less developed countries) tại Đại học Oxford mà trường quản lý là Hertford College. Cho nên tôi phải chịu thêm một cái Tết xa nhà nữa. Nhưng cái xa nhà lần này thấm thía hơn trước nhiều bởi vì Oxford là một địa phương “hẻo lánh” xa rời London thủ đô nước Anh. Thời đó cũng rất khác thời nay, không dễ gì liên lạc. Tại Oxford cũng không dễ gì kiếm ra được một sinh viên nào người Việt. Và dĩ nhiên cũng không có một cộng đồng người Việt để người ta gặp nhau vui Tết như ở Luân Đôn.
Tuy nhiên, có một diều được ghi nhận một cách đáng lo là phần lớn người châu Âu thời đó không có sự ủng hộ dành cho cuộc chiến của Mỹ tại Miền Nam. Ít nhất, người dân Pháp, dân Anh, dân Hòa Lan, dân Bi, dân Đức, dân Ý... tin rằng cuộc chiến của Mỹ la cuộc chiến xâm lược, và cuộc chiến của VC là “chiến tranh giai phóng”.
Tôi vẫn phải tự hỏi bộ máy thông tin, tuyên truyền của chính quyền Saigon, tại sao có thể bất lực, vô hiệu một cách dửng dưng đến thế.
Tết trong trại cải tạo - Tết xa nhà, xa gia đình, xa vợ, xa con... đương nhiên là những kỷ niệm không vui cho bất cứ ai đã trải qua những kinh nghiệm đó. Nhưng cái Tết đầu tiên của những người sa bẩy hay chui vào bẩy “học tập cải tạo ngắn ngày” quả thật là bi kịch không lời – không lời vì hàng chục ngàn người, nếu không phải trăm ngàn, hai trăm ngàn người cùng chung số phận đó. Tết ở trong tù không gia đình thăm viếng có thể làm cho người ta âm thầm phát điên. Phát điên vì sự gian trá, lừa lọc và tàn bạo phi nhân của chế độ cộng sản đối với những người công chức hay quân nhân của chế độ cũ, và đối với gia đình của những người ‘được đi học tập” nhưng “ở mãi không về.” Phát điên vì tương lai mù mịt của mình. Phát điên vì sự bất lực, tuyệt vọng, khủng hoảng của gia đình bên ngoài.
Thật ra, chế độ tập trung không có gì mới lạ. Những chế độ độc tài, phát xít từ bao đời đã áp dụng cách đối xử như thế với kẻ thù. Nhưng khi nhìn lại xã hội Miền Nam sau 1975 phải tan hoang vì những trại tập trung như thế và thảm cảnh của bao gia đình chịu những mất mát, đổ vỡ không thể phục hồi được, chúng ta mới hiểu được xã hội băng hoại của đất nước ngày nay.
Và nỗi buồn vong quốc đang trở thành Nghìn Thu...
Hoàng Ngọc Nguyên
