Hoàng Dược Thảo
Nhật ký tháng 7
Tháng 7 là tháng của muà hè, tháng nóng nhất trong năm. Tin tức cho biết 150 triệu người Mỹ đang chịu nóng, cái nóng trên 100 độ kéo dài bất thường suốt một tháng 7, đưa đến nhiều đám cháy dữ dội ở nhiều nơi trên thế giới. Từ Âu Châu sang Mỹ Châu. Thế mới biết Đông và Tây khác biệt không chỉ ở phong tục, tập quán mà còn ở khí hậu. Tháng 7 ở Việt Nam là muà mưa. Tháng cuả Chức Nữ, Ngưu Lang, của nhịp cầu Ô Thước. Muà mưa tháng 7 đã là cảm hứng trong thi ca Việt Nam như những câu thơ Kiều cuả thi hào Nguyễn Du:
Tiết tháng 7 mưa dầm sùi sụt
Toát hơi may lạnh buốt xương khô
Não người thay, buổi chiều thu
Hoa lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.
Bài thơ cho những oan hồn đã khuất, cho xá tội vong nhân và thời nay, cho biết bao nhiêu thân xác Việt Nam vùi thây trong rừng già, trong rừng núi TrườngSơn, dưới lòng Biển Đông chỉ vì một “lý thuyết” không tưởng. Bài thơ đọc lên mà như nghe tiếng khóc dọc bờ sông Hương, vượt con Đèo Cả, xuôi dòng về Nam. Nếu mỗi linh hồn vất vưỡng là một ánh nến thì liệu nó có soi sáng được tâm trí u mê của những người đang nắm sinh mạnh của 95 triệu người dân Việt?
Những ngày mưa dầm ở quê nhà thường kéo theo những cơn lụt lội khiến người dân quê Việt Nam lại càng thêm đói khổ. Nhưng ở đây tôi thật thèm tiếng mưa rơi. Tiếng mưa dội trên mái ngói của ngôi nhà từ đường họ ngoại, trên hàng chuối, bụi tre sau nhà xen lẩn với tiếng gió là những âm thanh của một thời tuổi thơ không bao giờ quê được. Vì sau những đêm mưa, mùi cháo đậu xanh của mẹ, mùi dầu Nhị Thiên Đường khi rúc trong lòng bà trở thành mùi, vị của thiên đường. Ở nơi đây cũng có những cơn mưa, ngắn, vội. Mưa hối hả, mưa như mưa nhanh để rồi tan hàng, đời sẽ qua ngã khác. Còn mưa ở Việt Nam mưa … là mưa, là lúc tới, lúc đi như để lại một chút tình, mưa mát lạnh và mưa rửa sạch phố phường, mưa làm nhớ không gian, thời gian… và nhất là, mưa làm nhớ người. Nhưng như thế thì không có nghĩa là tôi không nhớ những chiều mưa lầy lội nghèo nàn, khốn khổ trong các tác phẩm thời tiền chiến của Trần Tiêu, cuả Nam Cao, của Nguyên Hồng, của Vũ Trọng Phụng. Những đời mưa mà ngày trước tôi cứ lạc quan khi nghĩ rằng nó đã phải chấm dứt khi chúng ta bước sang thế kỷ thứ 21, nhất là khi mà hàng ngày 700 tờ báo lề phải cuả nhà nước Việt Nam cứ rêu rao về sự đổi thay và cường thịnh của đất nước. Vì theo những người cầm bút “ngoài luồng” thì Việt Nam ngày nay còn tệ hơn Việt Nam thời thực dân Tây đô hộ về giai cấp, về sự giàu nghèo trong xã hội. Chuyện khó tin mà có thực!
Tôi còn nhớ đọc trong một truyện ngắn nào đó, nhà văn Mai Thảo nhận xét về mưa ở Bắc và mưa ở Nam sau khi ông di cư vào Nam năm 1954. Ông viết: ngoài Bắc, tháng 7 là một trường kỳ mưa như thế. Mưa làm nhạt nhòa những bờ đê. Mưa làm mù mịt những lũy tre. Mưa làm rét mướt thêm những đời sống nghèo khổ tối tăm. Mưa gây ấn tượng hắt hiu buồn thảm trong trí nhớ. Mưa Saigon, mưa miền Nam khác hẳn. Đó là cảnh tượng nước trời đổ xuống thật lấp lánh, thật vui tươi. Mưa miền Nam ào ạt, đột ngột. Đổ đấy rồi ngưng đây. Ngập lụt đất rồi cũng khô ráo liền ngay đấy. Tôi còn nhớ những trận mưa thình lình trên đường Nguyễn Huệ, đường Lê Lợi, những tá áo dài đang là những bông hoa kiều diễm dưới nắng bỗng thất thần chạy đi tìm chỗ ẩn, vừa cười, vừa nói, ướt như chuột lột.”
Nhưng không có gì bất chợt cho bằng một đêm mưa giưã muà hè tháng 7 ở Cali. Tôi thức giấc lúc 3 giờ sáng, nghe tiếng mưa rì rầm mà như nghe một tiếng gọi trong mơ, vừa xa, vừa gần. Khi đi xuống nhà bếp, rót cho mình một ly nước lọc, tiếng mưa đập vào khung cửa kính khiến tôi chợt nhận ra rằng trời đang mưa. Nằm nghe mưa mà như nghe tâm sự của mình, thấy lại cảnh ngộ của đời mình. Thấy những khoảng cách mịt mùng, thấy những hố sâu lạnh buốt. Thấy muà mưa “chế độ” kéo dài làm thân thể người dân tấm đẫm nhục nhằn, tiếp tục khom lưng, tiếp tục cúi đầu, một chế độ không còn một chỗ trú cho lương tri, cho đạo đức, cho văn hoá, cho văn chương. Buồn bã thay khi nghĩ rằng những cơn mưa “chế độ” này chưa biết bao giờ mới chấm dứt ở quê nhà!
*
Hai tuần qua, tôi được gặp lại vài người bạn trong làng báo. Gặp lại để thấy thời gian không tha ai, ai cũng gầy, cũng già đi rất nhiều. Nhất là nỗi buồn, ai cũng buồn bã quá.
Khi trở về nhà, ngồi một mình trong bóng đêm, trong ngôi vườn sau thoang thoảng mùi hoa dạ lý hương, hoa nhài, tôi nhớ lại những cuộc nói chuyện với bạn, lại thấy buồn cười khi nhớ rằng mình luôn đóng vai một người cứng cỏi, khuyên nhủ, an ủi người. Trong khi đó, càng đi sâu vào nghiệp báo lại thấy mình càng sa lầy. Có nhiều điều muốn làm vẫn chưa làm được. Có những chuyện không còn muốn can dự lại thấy mình cứ bị lôi cuốn vào. Nhưng quả thật ở đời không có gì không thể xảy ra. Luật trời đất. Nhớ hoài câu nói của mẹ tôi: ở với người thì dễ, ở với trời mới khó. Trời cao, có mắt...
Từ bao nhiêu năm trước, cái định mệnh nào đó cứ trói buộc tôi hoài với những người bạn rất nghệ sĩ vây quanh. Các bạn tôi, người nào cũng khổ. Lúc nào, tôi cũng thấy các bạn có vấn đề: chuyện áo cơm, chuyện gia đình bất hòa. Những ánh mắt sáng như sao, ôm đàn, uống rượu, ngâm thơ, bàn chuyện nước non, hào sảng giữa bạn bè khi gặp lại ngoài đường phố, tiếng nói đã tan nát nét tinh anh, đôi mắt đầy mệt mỏi. Việc văn hóa, dân tộc, bầu nhiệt huyết làm họ nâng cao giọng nói để rồi khi gặp lại, lại buồn buồn, bả bả, mắt chẳng muốn nhìn ai, nói chẳng ra lời.
Vì thế tôi rất thương những người bạn nghệ sĩ của tôi. Tôi làm báo, viết báo lâu năm nhưng lúc nào cũng “tự” cho mình … là một kẻ đứng bên lề nhìn các bạn đang xoay vòng mà thấy mình mau mắn vì không phải là một nghệ sĩ… như bạn.
Vì là “nghệ sĩ” sao mà khổ quá. Mà khổ thực đó, Ông Vũ Hữu Định, nhà thơ của “Còn một chút gì để nhớ” đã đi bộ từ cầu chữ Y bên Khánh Hội sang Hồng Thập Tự gặp tôi chỉ để: Gửi bà hai bài thơ mới làm mà tôi rất khoái, chắc bà sẽ thích. Thì ông khoái, tôi thích nhưng đó đâu phải là cái lý do để lội bộ 15 cây số dưới nắng trưa Saigon. Nhà thơ Hạc Thành Hoa (Bông hoa của làng Hạc Thành, lời anh giải thích về bút hiệu của mình) lại không có một cái vẻ gì là “hoa” cả. Anh là giáo sư trung học nhưng khi gặp gỡ tôi có cảm tưởng như gặp một ông sống ở vỉa hè lâu năm. Cái áo trắng bẩn đến ghê người. Anh ra tập thơ: Một mình như chiếc lá. Chúng tôi cười đùa: Một mình như hủ mắm. Lý do: Ông luộm thuộm quá. Mỗi khi từ Cần Thơ về Saigon ông hay mang lên những hũ mắm tặng bạn bè. Nhà thơ NN thì cao lêu khêu, nhìn đã thấy khổ. Trước khi nước mất vài tháng, ông về Saigon, tôi thấy ông đi hơi khập khiễng. Hỏi thăm, ông cho biết bị một vết thương nhỏ làm mủ ở chân. Lười, không muốn xếp hàng ở bệnh xá quân đội, không có tiền mua thuốc nên “nó” nhiễm trùng và hành ông dữ quá mấy ngày qua. Tôi bảo ông cho tôi xem. Sau này, khi nghe tin ông là người nằm vùng và đang sang Hoa Kỳ vận động cho nghị quyết 36, tôi lại nhớ vết lở nơi bắp chân của ông. Còn nhớ, tôi đã ra tay “tảo thanh quân thù” băng bó, đưa thuốc trụ sinh bắt ông uống trước khi tiển ông về Trung. Rồi miền Nam đổi chủ, tôi không còn gặp lại. Một ông nhà thơ khác, trước 75, hay đến chơi với chúng tôi luôn, mỗi khi ông về Saigon. Nhưng mãi sau 1975, tôi mới được gặp vợ anh, người đàn bà lam lũ với 7 mặt con than thở ông đã đi Mỹ với một người đàn bà khác. Nhà văn Huỳnh Văn Phú, Thủy quân Lục chiến, đánh giặc ở đâu dữ dội thì tôi không biết, về Saigon anh hiền khô. Có lần ông mang về cho chúng tôi một khẩu AK của Việt cộng có cả lưỡi mác dài ngoằng, bảo ba sắp nhỏ mang bán đi, bán cho Mẽo kiếm tiền tiêu. Khẩu súng theo tôi đi qua rất nhiều ngôi nhà. Cho đến một chiều sau 30 tháng 4, 1975 thì tôi phải đem “thả” nó trôi trong lòng sông Rạch Kiểng phía sau làng báo chí ở Thủ Đức vì trong cơn sốt của 30/4 vì sợ bị xét nhà, lòi ra việc chứa súng dù là súng VC cũng là điều không nên. Ông Phạm Văn Bình của Chuyện Tình Buồn, ngày nhà em pháo nổ, anh cuộn mình trong chăn, như con sâu làm tổ, ở trại gia binh bên kia cầu Thị Nghè. Anh dẫn vợ đến thăm, khoe trước là: bả theo tôi khi bả còn nhỏ xíu, mới 13. Mà chị Bình trẻ thực. khi tôi gặp chị mới 17-18 tuổi, dáng dấp như nữ sinh mà đã có 4 con.
Nói chung, nghệ sĩ nào tôi cũng thấy khổ. Như khổ là định mệnh của họ. Như nghệ sĩ mà không khổ thì không phải là nghệ sĩ, thì phải. Cứ thấy một anh nghệ sĩ mà nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con khôn, có công ăn việc làm đàng hoàng thì coi như đó là điềm... bất thường, như đó không thể là một nghệ sĩ đích thực.
Vì vậy, mà trong đời sống làm báo của tôi, tôi cứ cố gắng “tu” hoài. Tu để khỏi thành nghệ sĩ. Tôi sợ … gần đèn thì sáng. Có đêm tôi viết bài xong thì đã rất khuya. Tôi nằm trong bóng đêm, nghĩ đến nghiệp viết lách mà buồn cười. Có những thời gian, vì sợ đời nghệ sĩ của người bạn đường, tôi... không thích chuyện văn chương, sợ báo chí. Không tham gia, không tham dự đã đành, tôi còn... ghét, cứ sợ nó vạ đến mình. Vậy mà cái vòng lẩn quẫn lại kéo tôi vào nghề báo. Định mệnh kỳ lạ thật. Hay đó cũng chỉ là những điều đã vay, bây giờ tôi phải trả. Trả lại nét mặt rất vui, rất nhà quê của Nguyễn Tất Nhiên khi khoe bài thơ mới làm "chưa cho ai đọc, ngoài chị". Trả lại những đêm nghe anh Mai Thảo bình thơ. Nghe nhạc sĩ Phạm Đình Chương nói về thơ phổ nhạc. Ông kể có những bài thơ chỉ cần 15 phút ông đã viết xong phần nhạc nhưng có một bài ông viết gần 2 năm mới xong. Đó là trường hợp của hai bài hát “Đêm Nhớ Trăng Saigon” và “Khi cuộc trình đã chết” phổ thơ Du Tử Lê. Ông kể có dạo đi đâu, ngồi đâu, trong cả hai năm, ông hay lẩm nhẩm câu “khi cuộc tình đã chết, còn mắt nào cho nguôi, đời đã đành chia đôi” khiến bạn bè không ai hiểu vì sao cuộc tình đã chết mà lại còn hành ông đến như thế. Trả lại nụ cười hóm hĩnh của nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh khi tìm ra bố cục cho một bức chân dung, về những điểm tối, điểm sáng mà qua lời của ông, người được nghe như nhìn thấy được cái thần khí của nhân vật, dù đó chỉ là một thư sinh áo vải, tay nải đi chân đất trên những đồi cát của một thời đất nước loạn ly. Trả lại những bữa tiệc chả giò, tiết canh vịt, không có gì mà vui như Tết với... đầy đủ bá quan. Nợ thì phải trả. Trả trước, khỏi trả sau. Còn chút nợ với tình nghệ sĩ, chắc tôi phải trả hết kiếp này cho xong.
Hy vọng kiếp sau, ở một cõi khác, sẽ không còn chế độ cộng sản ở quê hương, sẽ không còn những nhà văn mà ước mơ chỉ là được ăn một miếng thịt bít tết mỗi tháng như ông Vũ Trọng Phụng, những người khi yêu ai sẽ nói là yêu, ghét ai sẽ nói là ghét như ông Phùng Quán ... Việt Nam sẽ không còn cảnh hàng triệu căn biệt thự bỏ trống trong khi đại đa số người dân không có một cái chòi để ở… Sẽ có một Việt Nam của chung của tất cả người Việt Nam, chứ không phải của riêng của đảng Cộng sản Việt Nam. Sẽ không còn cảnh những người Việt Nam yêu quê nhưng không “dám” trở lại quê hương vì sợ bị buộc tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, theo quy định tại điều 117 Bộ luật Hình sự của nước Việt Nam, cái tội mà tỷ phú Nguyễn Thành Nam, một người Cộng sản đang phải ngồi tù. Cái nóng của trời đất tháng 7 ở xứ người không biết có dễ thở hơn phòng giam có máy lạnh mà ông Nam đang ở tù nhưng vụ Nguyễn Thành Nam khiến cho những người còn ảo tưởng về một Việt Nam đổi mới, văn minh lại … tiếp tục sáng mắt. Đó là lý do tôi phải hẹn lại với những người thân trong nước là tôi vẫn còn… hèn nên vẫn chưa dám về thăm quê hương.