Hoàng Dược Thảo, Nhật ký tháng 6-2026

Phiếm Dị

Hoàng Dược Thảo

Nhật ký tháng 6

Có một thời gian dài hơn 7 năm, tôi bỏ Cali về sống tại Houston. Bạn bè ở xa lo cho tôi lắm. Bỏ một nơi có khí hậu ôn hòa nhất nước Mỹ về sống tại một trong những tiểu bang có khí hậu nóng nhất nước Mỹ. Bạn bè tôi đâu biết rằng đó lại là những ngày tháng yên bình nhất trong đời tôi: những ngày không phải chạy theo những cái deadline, những ngày không phải nghe tin tức, không phải lo tiền giấy, tiền trả lương nhân viên. Ngôi nhà của tôi ở Houston rất rộng, rộng nhất trong những ngôi nhà tôi đã ở, trước mặt là một hồ nước nhiều bóng liễu rũ để tôi có thể đi bộ mỗi sáng, phía sau là một rừng cây đầy tiếng chim ca. Mỗi sáng khi cầm trong tay một tách cà phê bước ra vườn sau, tiếng chim ca này luôn làm tôi như nghe được bài hát « Bến Xuân » của Văn Cao, Chim ca thương mến, Chim ngân xa u ú ù u ú, Hồn mùa ngây ngất trầm vương…Lần đầu tiên tôi được ‘trải nghiệm » những ngày tháng rong chơi với bạn bè. Những quán cà phê, những quán ăn khắp thành phố, rồi nấu ăn, ca hát, làm việc bên nhau, kể cho nhau nghe những chuyện buồn nhiều, vui ít của tuổi già.

Vì vậy, sau đại dịch Covid, khi nghe tôi báo tin sẽ dọn về lại Cali, các bạn tôi đã ngạc nhiên hết sức. Sau đó thì hết sức ngăn cản. Vì tôi đang làm một « sai lầm lớn nhất » của một người già là bán nhà để về với con. Tôi trấn an họ là tôi không ở với con, tôi có nhà riêng và chỉ ở gần. Các bạn tôi đã không yên tâm một chút nào. Nhưng tôi đã suy nghĩ suốt 2 năm sau 14 tháng xa cách các con vì đại dịch để quyết định điều này. Chỉ vì một câu nói của đứa con trai : mẹ, con muốn được gặp mẹ nhiều hơn. Mẹ ở xa con chỉ có thể gặp mẹ mỗi năm vài lần. Mẹ đã lớn tuổi, không lẽ đời con chỉ còn được gặp mẹ chục lần rồi thôi.

Tôi đã mất hai tháng để đóng gói những thứ mang đi và đã « buông » nhiều thứ để có thể dọn nhà về lại Cali, một ngôi nhà nhỏ bằng 1/3 diện tích ngôi nhà ở Houston. Rồi mất thêm hai tháng mới thu xếp được tàm tạm nơi cư ngụ mới. Phải làm quen lại với hệ thống bảo hiểm y tế vì mỗi tiểu bang của nước Mỹ có một hệ thống y tế riêng biệt về nhiều mặt. Phải làm quen với chợ búa, nhà hàng, những nhà hàng tôi quen tên thì chủ cũ không còn, thực đơn đã đổi thay. Bước vào thì hăm hở, bước ra thì buồn buồn.

Tuy không đến nổi như Từ Thức về trần vì trong thời gian ở Houston, tôi cũng về Cali rất thường để thăm con. Mỗi lần vài tuần. Nhưng khi về hẳn rồi mới thấy thời gian quả là một cơn lốc qua đi quá nhanh. Khi về lại Cali, tôi nghĩ sẽ được gặp lại nhiều bằng hữu vì đó là nơi tôi đã sống và làm việc trong vòng 40 năm đầu tiên ở Hoa Kỳ từ năm 1977. Nhưng thực tế thì không phải vậy. Bạn bè, bằng hữu đã lần lượt ra đi. Những người còn sống cũng tan tác cả. Nhiều người phải về sống với con ở nơi xa, có khi là một thành phố khác, tiểu bang khác. Nhiều người có vấn đề sức khỏe. Ít người còn lái được xe. Gặp nhau qua điện thoại thì nghe tiếng còn, tiếng mất của tuổi già. Thành phố Little Saigon không còn là thủ đô của người Việt tị nạn nữa vì chủ nhân đa số quán xá là những người Việt mới định cư, không phải là người Việt miền Nam, vượt biên tị nạn Cộng sản sau 1975. Hầu hết là người miền Bắc, ngay cả những thanh niên, thiếu nữ làm phục dịch.  Họ rất hòa nhã nhưng chúng ta có thể nhận diện họ ngay từ cái nhìn đầu tiên. Tôi đã đi ăn nhiều nơi và nhận thấy bạn bè của tôi không còn dị ứng nhiều với điều này.

Nhưng tôi không phải là người già duy nhất than thở về việc bây giờ đi ăn ngoài ít khi được  gặp lại người quen. Câu trả lời ai cũng biết là đa số “thế hệ tị nạn” thứ nhất đã ra đi, người còn lại thì hết lái xe được, bệnh tật, tiền hưu giới hạn, việc đi ra ngoài ăn uống còn khó hơn chuyện ngày xưa… chôn dầu vượt biển.

Biết làm sao được thì thế hệ di dân tị nạn Cộng sản đầu tiên đã trở thành … người muôn năm cũ và thế hệ thứ hai của người Việt TNCS thì là những công dân Hoa Kỳ thực thụ từ tư tưởng đến đời sống. Có thể chúng chỉ nhớ đến nơi này khi có ngẫu hứng muốn ăn thức ăn Việt Nam thay vì thức ăn Mỹ, Tàu, Korea, Nhật, India. Thành phố Little Saigon, thủ đô của người Việt TNCS ngày nay đã trở thành nơi người Việt nước ngoài cư ngụ nhiều nhất thôi. Không còn những nét đặc thù của một thành phố của người Việt Nam Tự Do di tản. Tôi trở lại nơi này đã hơn một năm và ít khi gặp được những nhân vật đã làm nên thành phố này. Nhìn lại, thấy bạn mình … già mới biết mình cũng già như bạn.

Tháng 6, 1988 Thống đốc California George Deukmejian công bố dự luật công nhận khu vực đông người Việt Nam tị nạn Cộng sản định cư tại Nam California, Hoa Kỳ là  khu "Little Saigon".

Bạn hỏi tôi có buồn không ? Có chứ. Vừa buồn, vừa tiếc, vừa nhớ thương. Tháng 7 năm 1985, tuần báo Saigon Nhỏ tại Orange County ra mắt độc giả. Khi đó nơi này chưa có khu Little Saigon. Tên báo Saigon Nhỏ hay Little Saigon News khiến nhiều nhà văn, nhà báo tên tuổi thời đó không muốn cộng tác mặc dù ai cũng biết lý do tôi chọn tên này. Chúng ta đã có Little Tokyo, Little Italy thì bây giờ là Little Saigon. Toà soạn Saigon Nhỏ nằm trên đường Moran trong khu Bolsa từ năm 1987. Đến năm 1993, toà soạn dọn về đường Brookhurst, khu có Viện Việt Học. Năm 2007, khi thành lập nhà in Quốc Gia (National Web Press), ở thành phố Garden Grove xa khu Bolsa khoảng vài cây số, toà soạn Saigon Nhỏ lại di chuyển về đó. Nhưng tháng 6/2008, tôi mở thêm một văn phòng tại đường Moran, con đường được xem như là con đường báo chí của khu Little Saigon này vì hầu hết các toà soạn báo ngày đều đặt tại đây. Vào cái tuổi mà theo người xưa thì nên thu gọn lại, chuẩn bị cho tuổi già – hay tuổi vàng, The Golden Years theo người Mỹ, thì tôi lại bận rộn với không biết bao nhiêu là công việc. Nếu cho rằng tôi là người tham công, tiếc việc thì không đúng đâu. Chỉ có thể dùng chữ “nghiệp” để giải thích về chuyện này mà thôi.

Dạo đó, tôi nghe nói người Việt trong nước hay người Việt định cư ở quốc gia khác, ngay cả người Việt ở các tiểu bang khác của Hoa Kỳ thường e ngại khi nghe đến Bôn-Sa, người Bôn-sa. Nhưng với tôi, sống và làm việc nơi đây, tôi có cảm tưởng như là chúng tôi đã mang theo đất nước Việt Nam Cộng Hòa trên đường lưu vong. Thử tưởng tượng, có ở nơi nào mà chỉ cần lái xe vài phút thôi, tôi đã có thể chọn nhiều hiệu phở ngon, nhiều nhà hàng bán bánh cuốn, tiệm cơm Huế, tiệm cơm Bắc, cơm Nam… mà chủ nhân, khách hàng đều là những người thân quen. Cứ đi vào quán là gặp được bạn. Hoặc “ới nhau” là lại được gặp nhau rồi để hẹn cho lần gặp tới. Bà nhớ đến nhé, cuối tuần này có Ngô Vương Toại về đấy. Có Lệ Thu ra CD mới… Chỉ có ở “xóm” Bolsa, chúng ta mới được gặp những “ngôi sao” hải ngoại đi ăn tiết canh vịt, đi ăn hủ tiếu Nam Vang… Hình ảnh của những người đẹp “tay sách, nách mang” con thơ sao mà dễ thương dù nó thật là tương phản với hình ảnh của các cô trên Paris By Night. Viết đến đây lại nhớ một câu chuyện vui. Một ông “bỉnh bút” được mời làm MC cho một chương trình ca nhạc tiền chiến. Ông bỏ cả tuần lễ để viết lời, để tìm hiểu về ca sĩ. Buổi chiều trình diễn thì buổi trưa ông đi vào nhà hàng Song Long và đụng đầu với những danh ca mà ông vừa viết xong phần giới thiệu. Các cô rất vui khi nghe “bà bầu” giới thiệu về ông MC nhà báo. Ông tâm sự là sau khi gặp mặt, ông đã muốn thay đổi lời giới thiệu. Chưa hết, tuần kế tiếp, ông viết về kinh nghiệm này trong một bài viết có tên đại loại như “nếu thế giới không còn son phấn”. Ngày nay, người viết cũng như người hát đều không còn. Hy vọng khi gặp nhau ở cõi khác, họ đều đã trở về với hình ảnh nam thanh, nữ tú của thời thanh niên và quên đi cái “ngôn ngữ độc hơn thịt vịt” của ông nhà báo.

Cũng chỉ ở Bolsa, bạn có thể tìm được bất kỳ một dịch vụ thương mại nào từ A đến Z do đồng hương của chúng ta đảm nhiệm. Từ việc lớn “tày trời” đến việc “nhỏ như con thỏ”. Có nhiều “người Việt” chê dịch vụ  của người Việt không chuyên nghiệp lại hay mánh mung, chỉ thích làm việc với người Mỹ, dùng dịch vụ của người Mỹ. Tôi nghĩ đó là một định kiến bất công vì không ít người Việt làm việc với tinh thần trách nhiệm và rất lương thiện. Trong 50 năm ở Hoa Kỳ, tôi làm việc rất vui vẻ với các “đồng hương” của tôi. Không phải là tôi không gặp rắc rối khi làm việc với người Việt nhưng tôi đã “sống sót” được. Như mới đây, ông thợ điện trẻ tuổi làm chưa xong việc đã nhận thì để lại một cái nhắn tin thống thiết: “Cô ơi, cháu có việc phải về Việt Nam gấp nên không kịp từ giã cô. Bạn cháu sẽ hoàn tất công việc thay cho cháu, cô thông cảm”. Công việc bỏ dở nửa chừng, dây nhợ ngỗn ngang thì ai mà không bực. Nhưng nhà ông thợ điện “Lê Lai cứu chuá”  lại nhe răng cười  “Cô thông cảm, “nó” bị tình ái vật, bây giờ chưa biết sống chết sẽ ra sao…”

Trở lại thành phố Little Saigon năm 2026 tôi nhận thấy là người Việt Homeless giảm đi rất nhiều. Quanh các siêu thị lớn, tôi không nhìn thấy nhiều nữa. Hoạt cảnh “ca nhạc” trên đường phố cũng ít hẳn đi. Có thể là vì “họ” cũng già đi, người trẻ thì cũng phải tìm ra cách để sinh nhai. Còn nhớ quanh toà soạn của tôi ở đường Moran, thành phố Wesminter, có nhiều người vô gia cư bám trụ. Một buổi sáng, tôi đang cùng người lao công Mễ dọn dẹp rác rưới phía sau (không xả rác không phải người Việt - không biết ai là tác giả câu nói này) thì tôi nghe có tiếng huýt sáo rất hay một bài nhạc Tây. Tiếng huýt sáo này chắc chắn không phải dành cho tôi rồi nhưng tôi cũng tò mò nhìn về hướng đó. Từ góc khuất của bãi bánh xe phế thải, một “chàng công tử Tây đô” tóc chải bảy ba, mặc đồ ngủ chim cò, đứng lên, cười lỏn lẻn, ra dấu làm quen. Ngày hôm sau, Chủ nhật, tôi nghe có tiếng ca vọng cổ được khuếch đại bằng máy phóng thanh, xen lẫn với tiếng cãi nhau. Ông Phụng, người lo việc phân phối báo cho Saigon Nhỏ, cho tôi biết một cặp “vợ chồng” homeless thường “quậy” giúp vui. Tôi nhìn ra ngoài thì thấy một phụ nữ Việt Nam ốm nhom, không thể đoán được tuổi tác vì đầu tóc rối bù, mặt mày đen nhẻm, mặc cái áo dài mỏng tanh màu hồng bên ngoài cái quần… xà lỏn, người chồng, tóc dài, cũng nhem nhuốc nhưng diêm dúa không thua gì vợ. Người đàn ông trông có vẻ ít bị “tâm thần” hơn người đàn bà qua cách ăn mặc. Họ hát ngoài đường mà cũng có máy phóng thanh và cũng có micro cầm tay bên cạnh cái rổ đựng tiền. Hát chưa xong một bài thì lại cãi nhau, chửi thề inh ỏi, lầu bầu những câu nói mà không ai hiểu được họ muốn nói gì. Ông Phụng bảo nhiều cửa hàng ở Bolsa đã gọi cảnh sát để dẹp loạn “cầm ca đột xuất” này. Nhưng họ chỉ vắng mặt vài ngày rồi sau đó đâu lại vào đấy, chương trình văn nghệ tạp lục vẫn di chuyển lên xuống trên đường Bolsa. Ông Phụng cũng đã về nước Chúa được 3 năm rồi. Đúng ngày 30 tháng 4, 2023.

Tháng 7, 1985, khi tôi bắt đầu tuần báo Saigon Nhỏ tại Orange County thì các con tôi đang học tiểu học. Muà hè năm nay các cháu nội, ngoại của tôi bắt đầu vào đại học. Đường Bolsa sau 50 năm, người cũ không còn bao nhiêu. Các phòng mạch bác sĩ hầu hết đã thay tên, con nối nghiệp cha, các văn phòng luật sư trẻ thay thế những văn phòng đại diện pháp lý, chợ to lớn hơn, tiệm ăn khang trang, chuyên nghiệp hơn… Đâu còn cảnh “nhà hàng” gia đình, nhỏ xíu, vài ba bàn cho khách, vợ nấu, chồng bưng bê, con dọn dẹp… Saigon trước 1975 có bao nhiêu nhà hàng, bao nhiêu dịch vụ thì khi xa quê hương, người Việt đã cố gắng tạo dựng lại những hoạt động xưa. Nhưng tên bảng hiệu thì có nhiều điều “ngỡ ngàng khó nói”. Nhà may Thiết Lập thì lại không phải của ông bà Thiết lập. Sau này khi ông bà Thiết Lập vượt biên qua được, mở lại nhà may, ông bà phải thêm sau chữ Thiết Lập hai chữ Saigon: Thiết Lập Saigon. Thành ra khó biết cửa tiệm nào là nguyên thủy của Saigon trước 1975.

Chuyện Bolsa, xóm tôi ngày xưa vui như thế đấy. Ở nơi đây, chúng tôi đã có một thời rất vui khi được gặp bạn bè mỗi cuối tuần khi ra mắt sách, ra mắt băng nhạc, chào mừng một nhà văn mới vừa đến được bến bờ tự do. Đi trên đường Bolsa, thấy bóng ông Mai Thảo băng “ẩu” ngang đường, thấy báo “Đời” của ông Nguyên Sa chuyên đăng tin giật gân phát đầy ở các chợ… Tôi vốn không tin bói toán vậy mà mỗi lần dọn nhà là lại tìm “thầy” Vũ Tài Lục xin coi ngày, coi hướng. Một người đầu óc làu thông kim cỗ như vậy mà lần sau cùng gặp Lục Tiên Sinh khi ông đã bị Alzeimer, ông không những đòi xem bói dịch cho tôi mà còn nhớ rũ tôi tuần sau nhớ ghé qua cùng gia đình ông … đi chơi Vũng Tàu.

Bolsa ngày nay đã mang hơi hướng của xã hội Việt Nam sau 75 năm cộng sản. Bolsa bây giờ có Làng Ngon, Phố Lẩu, Lúa Bistro, quán Tràm Chim, quán Chim Rừng,  quán Sen, quán Bến Lạ,  quán Miền Tây, cà phê M & Tôi, cà phê Lú, cà phê Hè Phố… Riêng cà phê Dĩ Vãng thì tôi nhờ hoài vì đó là những cái quán cà phê mà các cô nhân viên cuả Saigon Nhỏ dọa chồng: anh mà bước vào “Dĩ Vãng” thì khi ra anh sẽ thấy… “Tương Lai” ngay.

Ngày nay, phong trào ca hát đã ra khỏi các phòng khách của nhà riêng với những dàn máy Karaoke, mà đi vào các nhà hàng ăn cuối tuần. Các ca sĩ nghiệp dư bây giờ hát rất hay và rất mê hát. Hầu như nhà hàng nào có chỗ rộng, thoải mái một chút  là có ca nhạc sống với ca sĩ “tự phát” và sàn nhảy bỏ túi. Các ca sĩ “tự phát” này đủ lứa tuổi, hát đủ loại nhạc, đủ trình độ, đủ “can đảm” đến nỗi người nghe phải thưởng thứcvới một tinh thần “cởi mở” lắm thì mới không có cảm giác bị tra tấn. Nhưng không phải dễ mà được “trình diễn” đâu đấy nhé. Hôm nọ, có một cuộc họp bạn cuả một trường nữ trung học. Người ghi tên lên hát xem kẽ với khách hàng thân thuộc của nhà hàng làm thành một danh sách dài ơi là dài. Tôi bảo đùa với người bạn: “Chị về đây chỉ có 3 ngày, chắc phải hát từ nay cho đến khi bà lên máy bay về lại Hoa Thịnh Đốn thì mới hết ca sĩ ghi danh”. Lần khác, có một cuộc họp khóa binh chủng. Vì bà chủ tịch có một nhóm bạn ca hát nên hôm đó, không ai được hát ngoài nhóm của bà dù là các ca sĩ được mời có trả tiền.

Viết đến đây, tôi lại nhớ một trong những người bạn văn đóng góp nhiều cho tuần báo Saigon Nhỏ trong những ngày đầu là nhà báo Võ Thị Vui. Chị là nữ quân nhân Dù nhưng tác phong, ngôn ngữ ngang tàng như lính nhảy dù thứ thiệt. Nói chuyện với tôi chị không chửi thề như khi nói chuyện với các ông lính khác. Chị thường làm tôi ước mong phải chi tôi lớn hơn một chút để ngày lìa quê hương tôi mang theo một Việt Nam “cụ thể” hơn một chút. Như chị Võ Thị Vui chẳng hạn: mười tám tuổi chị đăng lính. Tôi hỏi chị: đàn bà gian nan đã đủ, sao chị lại muốn mặc quần áo lính? Lại là lính nhảy dù, ăn nói táo tợn, thẳng ruột ngựa như lính đàn ông.  Câu trả lời: cũng may mà đi lính, ở ngoài ai chịu nổi.

Việt Nam đối với tôi mơ hồ quá. Không như chị Võ thị Vui, không như những người đã tham gia vào cuộc đời, vào cuộc chiến trước 1975, Với chị Võ Thị Vui, Việt Nam là những thiên thần mũ đỏ, là tên những đồng đội đã nằm xuống, những người tình đã đi qua trong đời... Cái nhớ quê trong tôi vì thế chỉ là cái nhớ những điều mông lung, không rõ mặt. Và như thế tôi nghĩ thế hệ trẻ xa quê năm 1975 đã bị thiệt thòi không biết là bao nhiêu vì họ chỉ là những trái chín dú non sống dật dờ ngoài quê hương. Nhớ quê hương mà trí nhớ thật là hạn hẹp, không ngoài một góc trời, một con phố nhỏ, Địa Linh chỉ là những vùng đất và Nhân Kiệt chỉ là những tên gọi thì đâu có thể nói là “biết” quê hương? Nhất là khi chưa kịp về quê hương thì quê hương đã biến dạng tơi bời... Nhưng biết “quê hương” như những người trẻ lớn lên trong Xã Hội Chủ Nghĩa cũng thật là buồn. Bởi vì họ đã mất đi cơ hội để hãnh diện được là một người Việt Nam yêu quê hương, đất nước và dân tộc của mình.

*

Tháng 6, tôi cũng như nhiều người “già” khác bận rộn vì những buổi lễ tốt nghiệp. Nhưng tham dự những buổi lễ tốt nghiệp của các con ba mươi năm về trước rất khác với những buổi lễ tốt nghiệp của các cháu nội, cháu ngoại bây giờ. Tháng 6 năm nay, tôi có hai đứa, một cháu ngoại, một cháu nội tốt nghiệp trung học. Cả hai đều là con gái, một cháu nội sẽ vào đại học gần nhà nên chưa có gì phải lo, một cháu ngoại sẽ đi xa… từ NewYork về California với bà ngoại nên nảy sinh nhiều vấn đề. Nó là con một, lớn lên ở thành phố Manhattan, một New Yorker chính hiệu. Con nhỏ 18 tuổi, cao hơn bà ngoại một cái đầu, ngày lễ tốt nghiệp, lần đầu nó mang giầy cao gót, ảnh nó chụp chung với bà thì cao lớn như người … khủng long nhưng chuyện đời thì lại … ngây thơ vô số tội. Nó chỉ biết ăn vài món “cơ bản”: pasta, spaghetti, pizza, cơm trắng, thịt bò. Nó chưa từng ăn bún riêu, bún ốc của Việt Nam. Nhận một con nhỏ như vậy làm “roommate” trong vòng 4 năm sắp tới, bà ngoại nó thấy run trong lòng là phải mặc dù ngày còn bé, bà nó thường ôm nó trong lòng.

Dù thế giới có nhận xét về Hoa Kỳ như thế nào thì khi tham dự những buổi lễ tốt nghiệp của con, của cháu, với tôi đây cũng là một xã hội tự do, nhân bản, dân chủ và cường thịnh nhất thế giới. Những đứa trẻ mặt mày tươi sáng chờ đợi được kêu tên để lên lãnh bằng tốt nghiệp sao mà dễ thương. Ở đó tôi như đã quên hết những vấn đề vẫn làm tôi bận tâm những ngày tháng này khi tôi cũng như nhiều người Mỹ phải tự hỏi mình mỗi sáng: rồi ông tổng thống “siêu nhiên” sẽ đưa đất nước Hoa Kỳ, đưa chúng tôi đi về đâu trong 2 năm còn lại của nhiệm kỳ tổng thống lần 2 này.

Hoàng dược thảo

 

 

 

 

 

 

Nhạc sĩ Trần Duy Đức và nhạc phẩm KHÔNG DƯNG MÀ
 Điều tôi muốn gửi gắm chính là niềm tin vào lòng tốt giữa con người với con người. Dẫu cuộc đời vẫn còn nhiều hờ hững, ta vẫn có quyền tin rằng, giữa thế giới bao la với hàng tỷ người, sớm muộn ta cũng sẽ gặp một người thật sự chân tình. Niềm tin ấy nâng đỡ ta đi qua những ngờ vực, giúp trái tim còn giữ được sự ấm áp, chờ đợi một người xứng đáng, thật lòng với mình. (Trần Duy Đức)
Tòa soạn
Do công ty Saigon News LLC thực hiện
Editor-in-chief: HOÀNG DƯỢC THẢO
Director of Marketing: ANDY TRƯƠNG
Với sự cộng tác của: LÊ TẤT ĐIỀU, HOÀNG NGỌC NGUYÊN, NGUYỄN THỊ CỎ MAY, TRẦN TRỌNG HẢI.

Email: saigonweeklyonline@gmail.com

Thư từ bài vở: 702-389-5729

Quảng cáo: 702-630-0234

702-426-4404

Hotline: 702-426-4404

back top