Hoàng Long Hải
NHÀ HỌ NGÔ
“Bì oa trữ nhục”
“Ngàn năm bia miệng…”
Lời Diễn Đàn: Quan Điểm của người viết không nhất thiết là quan điểm của diễn đàn Saigon Weekly về vị Cố Vấn Chính Trị của Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa
Bài Thứ Năm
Con trai thứ tư
“Cố vấn” Ngô Đình Nhu

Ông Nhu là người nổi tiếng “học giỏi” trong số anh em nhà họ Ngô. Một lần ông chú tôi - ông chú tôi là ông Huỳnh Hữu Hiến, là một trong số ít người theo “đảng Cụ Ngô”, từ đầu thập niên 1940, trong “Phong trào Cường Để”, trong một bữa cơm có ông và “anh em chúng tôi”, - “anh em chúng tôi”, có nghĩa là có Huỳnh Hữu Tuệ và Ủy. Bữa ăn bao giờ chúng tôi cũng phải có mặt, không được vắng, và được ông chú nói cho nghe vài câu chuyện hay, chuyện của Huế. Ông là người cố cựu Huế - Ổng nói: “Ông Nhu giỏi lắm. Gõ tay vào một cái chén Tàu cổ, ông ta biết cái chén ấy làm vào đời nào: Càn Long hay Khang Hy.”
Hai ông này là hai ông vua Tàu, đời nhà Thanh. Hồi ấy, đồ sứ Tàu rất nổi tiếng, người Âu Tây ưa chuộng, đến nỗi, hồi đầu thế kỷ 20, ông Hồ Chí Minh, khi mới lưu lạc qua Paris, ông từng làm nghề “vẽ tranh” trên những cái chén sứ giả của người Tàu buôn bán bên ấy.
Người ta biết ông Ngô Đình Nhu học “ngành khảo cổ”, chớ chẳng mấy ai biết, ngôi trường ông xuất thân tên là trường gì.
Đó là trường “École de Chartes”. Đây là một ngôi trường lớn, danh tiếng ở Paris, đào tạo các “chuyên viên” về “Khoa học Lịch sử”, “Nghệ thuật”, “Cổ văn”, và “Thư Viện”, có liên hệ với PSL (Paris Sciennces et Lettres).
Học trường nầy, sau ông Nhu có giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu, nhưng ông Lâu học không hết chương trình, chuyển qua Sorbonne. Thế rồi thôi, không ai nối gót ông Nhu, vô học trường nầy. Mãi sau 1963, sau đảo chánh ngày 1 tháng 11/ 1963, nghĩa là gần ba chục năm sau, có một “chị” nào đó, mới tốt nghiệp trường nầy, là người thứ hai.
Người Huế “chuộng khoa bảng”, nghe nói ông Nhu học hành như thế thì phục lắm. Tuy nhiên, cũng có người ghét, ganh tị, không ưa ông Nhu, gọi mỉa ông là “trông coi thư viện”, “giữ sách” .
Khoảng các năm 1959/60, vừa dạy học, vừa học ở đại học Huế, tôi vô ra thường xuyên ở “Thư viện Đại Học”. Quản thủ thư viện là ông Bửu Kế, một nhà văn/ văn hóa có nhiều tác phẩm tôi rất ái mộ. Hôm đó, tôi vào thư viện xin gặp ông Bửu Kế để hỏi thêm về một câu trong “Tỳ Bà Hành”: “Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn giây”, tôi vừa giảng cho học sinh lớp đệ tứ. Hồi đó lớp đệ tứ còn học “Tỳ Bà Hành”. Đây là một điển tích nói về Bao Tự trong “Đông Chu Liệt Quốc”. Cuốn “Tầm nguyên Tự Điển” của ông Bửu Kế không có tích nầy. Cũng nhân dịp này, vì ông Bửu Kế là một quản thủ thư viện, tôi nói đến ông Dương Xương Tế là quản thủ “Thư Viện Bắc Kinh” cùng một ông nữa là Dương Thụ Đạt ở trường Đại Học Hồ Nam. Hai ông nầy là thầy của Mao Trạch Đông. Ông Mao mở mang kiến thức là nhờ hai ông thầy này. Ông Dương Xương Tế thấy Mao là người giỏi nên gả con gái cho. Đó là bà Dương Khai Tuệ, bà Tuệ là mẹ của Dương Ngạn Anh, tử trận trong Chiến Tranh Triều Tiên, và Dương Ngạn Thanh, Dương Ngạn Long.
Kể lại chuyện này là tôi muốn nhắc lại câu nói mỉa của một số người Huế đối với ông Ngô Đình Nhu. Người ta gọi ông là một quản thủ thư viện là vì đố kỵ, ganh tị hay vì gì khác? Điều tôi muốn nói, một cách thẳng thắn, rằng ông Nhu là người giỏi. Không những ông là một nhà chính trị, mà còn là một lý thuyết gia. Nước VN không có nhiều những người như thế nầy, ngoài Hồ Hữu Tường, Trương Tử Anh, Lý Đông A, ... Tôi chưa đọc các tác phẩm của mấy ông nầy nên không có ý kiến gì. Còn ngoài ra, Chủ Nghĩa Cộng Sản, Chủ Nghĩa Tam Dân, thảy đều vay mượn của người ngoài mà thôi.
Trong nhiều trường hợp, quản thủ thư viện là người hướng dẫn cho học sinh, sinh viên, thanh niên vào thư viện để đọc sách, nghiên cứu, học tập… về các tác phẩm có trong thư viện. Đó là cách “vào thư viện” của người Tây phương. Đối với Việt Nam quản thủ thư viện chỉ là người “giữ sách”. Người ta gọi ông Ngô Đình Nhu quản thủ thư viện là với tính cách như thế.
Thật ra, người ta “cười” anh em nhà Ngô là vì những chuyện khác kia...
Với cái bằng tốt nghiệp “École Nationale des Chartes”, ông Nhu về nước, Tây không biết để ông “ngồi” chỗ nào cho thích hợp, bởi vì VN lúc đó, chẳng có cơ quan, cơ sở nào cho “vừa” với cái bằng của ông Nhu, nhất là Huế, “bản quán” ông Nhu. Tây bèn để ông ngồi ở “Musées Khải Định”, người Huế thường gọi là “Viện Bảo Tàng Khải Định”. Chỗ nầy tôi có vô coi rồi, hồi tôi 13 tuổi. Toàn là gươm giáo cổ, súng cổ, - có những cây súng nòng dài như sào giữ vịt, - làm gì có “thiên kinh vạn quyển” cho ông Nhu ngồi đọc chơi...
Thứ hai là chuyện ông lấy vợ, cô Trần thị Lệ Xuân, - sau nầy người ta bỏ bớt chữ “thị” cho “văn minh”, - học sinh lớp Đệ Tam, Cours Segonde - trường Albert Sarraut, Hà Nội.
Dòng dõi thì như thế nầy.
Thân sinh bà là ông Trần Văn Chương, luật sư nổi tiếng ở Hà Nội, nhứt là sau khi “tranh kiện” “thắng lợi vinh quang” cho mấy ông chủ Tây. Ông Trần Văn Chương từng tham gia chính trị, giữ chức vụ bộ trưởng ngoại giao chính phủ Trần Trọng Kim, hồi Nhựt thuộc, bộ trưởng kinh tế khi ông Diệm mới cầm quyền. Chức vụ sau cùng là đại sứ VNCH tại Mỹ, bị cách chức vì “xung đột cha con” giữa ông bà Chương với bà Nhu.
Thân mẫu bà Ngô Đình Nhu là bà Thân thị Nam Trân, con gái ông Thân Trọng Huề, danh thần và cũng là danh sĩ triều đình Huế, hàm Đông Các Đại Học Sĩ. Dân chúng Huế có dư luận rằng khi ông Huề đang làm quan to ở Huế, là lúc “đương thời” của ông Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường.
Một hôm, kiệu của ông Huề đi ra cửa Chánh Tây thành nội Huế, gặp lúc kiệu ông Thuyết đi Tân Sở về. Kiệu ông Thuyết đi rất nhanh, khiến ông Huề không kịp xuống kiệu chào. Vậy mà ông Huề sợ, xin đổi ra Bắc, “xa mặt trời cho bớt nóng”. Vì vậy nên mới có chuyện ông Huề lấy vợ Bắc, làm ông ngoại bà Lệ Xuân, Lệ Chi.
Em trai ông Chương là bác sĩ Trần Văn Đỗ, cũng là một nhân vật nổi tiếng, giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền miền Nam VN. Năm 1954, ông được thủ tướng (chức vụ khi mới về nước) Ngô Đình Diệm, cử giữ chức vụ Trưởng Đoàn Chính phủ Quốc Gia, thay thế giáo sư Nguyễn Quốc Định, tham dự hội nghị Gèneve chia cắt nước VN làm hai. Đêm 20 tháng 7 năm 1954, trong khi Trưởng Đoàn Cộng Sản Việt Nam của chính phủ Hồ Chí Minh, là ông Phạm Văn Đồng, - (người gốc xứ dừa Bến Tre ) -, hí hửng, vui mừng, tuân lệnh Liên Xô và Tàu Cộng, ký tên vào Hiệp định chia nước VN làm hai, thì bác sĩ/ ngoại trưởng Trần Văn Đỗ ra ngoài hành lang, đứng khóc cho số phận đau thuơng của dân tộc.
Nước mắt của ông cũng như tiếng sáo của ông Võ Thành Minh réo rắt bên bờ hồ Leman gần đó, ở Thụy Sĩ, làm cho nhiều người Việt Nam đau lòng.
Luật sư Trần Văn Chương và bác sĩ Trần Văn Đỗ là con trai ông Trần Văn Thông. Ông Thông quê ở Biên Hòa, dân Nam Bộ. Ông Thông được học bỗng Tây cho đi du học ở Alger, đậu tú tài Tây bên đó, về nước làm thông ngôn cho Tây, sau ra Bắc, làm tổng đốc. Ông được Tây thưởng “Bắc đẩu bội tinh”, huy chương cao nhất nước Pháp.
Vợ ông là em gái Bùi Quanh Chiêu, người Nam Bộ đầu tiên đậu bằng kỹ sư canh nông. Ông Chiêu thành lập đảng “Lập Hiến”, chủ trương nước ta phải có hiến pháp, có dân chủ... nhưng có vua. Năm 1945, Việt Cộng giết cả nhà ông, ngoại trừ Henriette Bùi, con gái. Sau đó, người sống sót duy nhứt của gia đình ông Chiêu: Bà Bùi làm bác sĩ ở bên Tây.

Bà Ngô Đình Nhu
Dân “khoa bảng” với nhau, nên ông Nhu là “bạn” với ông Chương, rồi bỗng nhiên ông Nhu đòi cưới con gái ông Chương: cô Lệ Xuân. Cô nầy thua ông Nhu 14 tuổi: Ông Nhu sinh năm 1910, cô Xuân sinh năm 1924.
Tuổi tác không thành vấn đề. Dân “thượng lưu trí thức” với nhau cả, “Thế gia vọng tộc” với nhau cả, không lý chọn người bình dân làm vợ, làm chồng!!!
Đám cưới đâu hồi 1943. Anh em nhà họ Ngô từ Huế ra Hà Nội cưới vợ cho “chú Nhu”.
Di chuyển bằng tàu lửa.
Bấy giờ Mỹ/ Nhật đang đánh nhau trên không, dưới đất, dưới biển, có nghĩa là tàu bay Nhựt, tàu bay Mỹ “đánh nhau trên trời”. Tàu bay Mỹ bắn chìm tàu bè chạy ven biển, bắn sập cầu, và xe lửa.- nên gạo trong Nam không chuyển ra Bắc được, “góp phần” vào nạn đói năm Ất Dậu, Bắc Bộ chết đói 2 triệu người.
Trong tình hình chiến tranh như thế, anh em nhà họ Ngô phải “gồng mình” đi xe lửa từ Huế ra Hà Nội cưới vợ cho em.
Chuyện đó không có chi “buồn cười”. Chuyện người ta cười là “chuyện khác” nữa kia.
“Chuyện khác” nữa kia là:
Một hôm đang ăn cơm, tôi hỏi ông chú tôi, - lúc ấy có mặt cả Tuệ/ Ủy như thường lệ -, “Cháu nghe nói khi cưới vợ cho ông Nhu, mấy anh em “cụ” Ngô chê gia đình bà Nhu không “môn đăng hộ đối”.
Ông chú tôi dặn: “Bây giờ là đương thời của người ta. Không nên nói ra. Thằng Hồng Quang không biết mình biết người mà bị giết đó. Uổng thiệt. Thằng đó chính là người tài giỏi. Gặp “Cụ”, nó được trọng dụng...”
“Thằng Hồng Quang” là ông anh cả tôi, làm chủ báo “Ý Dân” ở Huế năm 1949, chống Tây, chống thủ hiến Phan Văn Giáo, bị Mật thám Tây thủ tiêu, lúc đó, ông mới 21 tuổi. Ông chú tôi “khen” ông nầy lắm, vừa có tài, vừa có khí phách. Ông chú tôi có biểu ông anh tôi tham gia “nhóm theo cụ” của ông nhưng anh ấy không theo.
Rồi ông chú tôi nói tiếp: “Ai cũng là gốc thông ngôn cả. Bôi bác chi nhau.”
Ý ông chú tôi muốn nói, ông Ngô Đình Khả hay ông Trần Văn Thông, bắt đầu sự nghiệp đều làm “thông ngôn” cho Tây. Làm việc cho Tây, người Huế “không mấy ưa”.
Đám cưới xong, cô Trần thị Lệ Xuân về Huế làm dâu. Chiều chiều, người ta thấy cô dâu mới ngồi xe tay, từ nhà chồng bên Phú Cam, hữu ngạn sông Hương, qua cầu Trường Tiền, vô Viện Bảo Tàng Khải Định, trong Thành Nội, tả ngạn sông Hương, đón chồng đi làm về, dung dăng, dung dẻ...
Rồi hai ông bà đi Hà Nội, trước khi “đức kim thượng thoái vị” năm 1945.
Nhà họ Ngô ở Phú Cam trở nên “im vắng” sau khi Việt Minh rút chạy, Tây trở lại chiếm thành phố Huế vào cuối năm 1946. “Nhà “cậu” từng có tiếng “theo Nhật, chống Tây” mà! Nhà ở Phú Cam, bên kia “cầu Tiệm Rượu” - còn gọi là “cầu Phú Cam” -, vậy mà ngay chính “dân có đạo Phú Cam” cũng không dám “vô ra nhà nầy”, nói chi ai khác, chỉ trừ mấy ông mà người ta gọi là “đảng cụ Ngô”.
Hồi ấy, Tây với “chính quyền tay sai” bắt bớ, bỏ tù, thủ tiêu những người “làm Việt Minh” dữ lắm, khiến dân chúng ai cũng sợ. “Không khí khủng bố” nầy, có dịp, tôi sẽ kể sau.
“Nhà cậu Cẩn” vắng hoe, chỉ còn mình “cậu” ở nhà, chăm sóc “mụ, tức cụ cố”. “Cụ cố” là bà Phạm Thị Thân, vợ ông Ngô Đình Khả. Mấy ông con trai đi hết. Ông Khôi bị Việt Minh giết rồi. Ông Thục làm giám mục ở Vĩnh Long. Ông Diệm, khoảng 1952, 53 thì đi Tây, rồi đi Mỹ. Ông Luyện ở Pháp. Ông Nhu ở Đà Lạt, sau về Saigon.
Chuyện “nghèo” của vợ chồng ông Nhu ở Đà Lạt, người ta nói nhiều rồi, tôi khỏi nói. Bấy giờ, “chung quanh” ông Nhu là một lớp trí thức khoa bảng, phần nhiều có bằng cử nhân luật như ông Trần Trung Dung, sau làm cháu rể ông Nhu, cưới bà Kim Anh, con gái bà Cả Lễ, (bà Ngô thị Hoàng), ông Nguyễn Đình Thuần, ông Hoàng Bá Vinh, ông Đỗ La Lam, ông Trần Chánh Thành, ông Nguyễn Tăng Nguyên... Các ông nầy, về sau, khi ông Diệm làm tổng thống, là “cán bộ nồng cốt của chế độ”, nghĩa là làm “bộ trưởng của chính phủ Diệm” cả, hay làm “trùm mật vụ” như bác sĩ Trần Kim Tuyến...
Có một hiện tượng như thế nầy, người không lưu ý cũng không được:
Một là ông Nhu có một “nhóm” người “bu” quanh ông, như các ông tôi vừa dẫn ơ trên, có bằng cấp đại học cả, - phần đông học luật, cử nhân luật, - trong “khuynh hướng” người VN, trước 1945, thời Pháp thuộc, học luật để ra làm quan, thường bắt đầu bằng chức tri huyện, thay thế các ông từ trường “Hậu bổ” ra, có trình độ Nho học, hơn Tây học. Nho học bấy giờ đã “lỗi thời”.
Hai là, ở Huế, chung quanh ông Diệm là một số “thân hào nhân sĩ”, những người từng “vô ra” nhà cụ Phan Bội Châu ở Bến Ngự/ Huế, từng tham gia “Phong trào Cường Để” thời quân Nhật đến Đông Dương, giỏi về Nho Học hơn Tây Học, và không có bằng cấp đại học như những người “bu” quanh ông Nhu như nói ở trên.
Sinh hoạt của “Nhóm Huế” nầy là thường tụ họp ở nhà “cậu Cẩn”, để biết về những hoạt động của ông Diệm ở Pháp, ở Mỹ... Mấy ông này rất hăng hái trong cái gọi là “Trưng cầu dân ý”, với “câu thiệu”: “Xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ bì”. Xanh là phiếu “quốc trưởng” Bảo Đại, đỏ là phiếu ông Ngô Đình Diệm.
Việc bầu cử ở “nước Việt Nam ta có bốn ngàn năm văn hiến” thường có “chuyện lạ” như vậy. Người Việt vốn “dân ngu khu đen” nên trong việc bầu cử, người “dân ngu” không biết chọn ai nên chính quyền phải “hướng dẫn”, “chọn giùm” như bây giờ ở trong nước “đảng cử dân bầu” vậy. Đảng không cử thì dân biết bầu ai ?! Coi chừng lớ ngớ bị Công An Việt Cộng “thộp cổ” như không.
Sau khi “Cụ” làm tổng thống được ít lâu, “cậu” trở thành “lãnh chúa miền Trung”, đám, - như ông Đỗ Mậu gọi -, “Cần lao Công giáo” cúc cung “phục vụ cậu” thì các vị “thân hào nhân sĩ” thấy ngại, thấy “mất mặt” khi vô ra nhà cậu. Họ bèn “dang ra”. Điển hình là ông Võ Như Nguyện, - bạn thân của ông chú tôi -, Ông chú tôi từ chối chức quận trưởng, ở bất cứ quận nào mà ông muốn. Ông Võ Như Nguyện từ chức tỉnh trưởng tỉnh Bình Định, chức Dân biểu Quốc hội”. Ông về làm thầy giáo ở Viện Hán Học/ Huế, dạy “chi hồ giả dã...” cho đám sinh viên như ông Nguyễn Lý Tưởng, sau nầy làm “giáo sư Nguyễn Lý Tưởng” đấy.
Mấy ông bu quanh ông Nhu bị phê phán nhiều hơn. Chẳng hạn như ông Nguyễn Đình Thuần, “nhảy” từ chức Đổng lý Văn phòng Bộ trưởng Phụ tá Quốc phòng, “lên” bộ trưởng bộ nầy, rồi “Tổng bộ trưởng An ninh/ Quốc phòng”. Tuy nhiên, khi cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11/ 1963 xảy ra, ông Thuần “lặn” rất sâu. Hai ngày sau, ông ra trình diện “Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng” rất sớm nên được khen, được bình an vô sự, cầm vé máy bay đi Paris.
Thứ đến là ông Trương Công Cừu, từng giữ chức Bộ trưởng Đặc nhiệm Văn hóa Xã Hội. Sau khi “Diệm Nhu đánh phá chùa chiền” đêm 20 tháng 8/ 1963, giáo sư Vũ Văn Mẫu, bộ trưởng bộ Ngoại giao xin từ chức, ông được kiêm luôn chức nầy, và cũng “lặn rất sâu” như ông Nguyễn Đình Thuần. Năm 1973, sợ con trai bị gọi nhập ngũ, ông cùng con “trốn” khỏi Saigon, “theo Tây”.
Về “Chủ nghĩa Nhân Vị” của ông Ngô Đình Nhu.
Học bên Tây về, ông Nhu cũng có một ít về “Tư tưởng Xã hội”, - khuynh hướng tư tưởng thời bấy giờ, như số đông trí thức Pháp -. Tờ báo “Xã Hội” của ông, xuất bản trước khi ông Diệm về cầm quyền, cho thấy điều ấy.
“Chủ nghĩa Nhân vị” của ông cũng là một Chủ nghĩa Xã Hội.
Ngày nay, vì Chủ nghĩa Cộng sản là một Chủ nghĩa Xã hội, nhưng chủ nghĩa xã hội ấy tàn ác quá, hầu hết người Việt Nam, Nam cũng như Bắc, - ngoại trừ những người có quyền thế trong đảng Cộng Sản VN được hưởng đặc quyền đặc lợi -, thì ai ai cũng sợ Cộng Sản nên người ta sợ luôn mấy chữ Chủ nghĩa Xã hội, chớ thực ra, Chủ nghĩa Xã hội là khuynh hướng chung của nhiều nước trên thế giới, chớ có gì đáng sợ.
Có một lần, anh Nguyễn Xuân Quỳnh, (sui gia với anh chị tôi) nói chuyện Chủ nghĩa Xã hội với tôi, anh ấy bảo: “Cậu Hải biết không, các nước Âu Tây đều là những nước “chủ nghĩa xã hội” cả, ngay cả những nước có vua, như Anh chẳng hạn. Cách tổ chức xã hội của họ, về chính trị, văn hóa, giáo dục... nhất là về kinh tế, sự phân chia quyền lợi giữa giai cấp thống trị, giai cấp bị trị, giữa chủ và thợ... đều là “Chủ nghĩa Xã hội” cả đấy.”
Anh Quỳnh tốt nghiệp Haute Commerce (Haute Ecole Commerce Paris) hồi đầu thập niên 1950, từng ở bên Tây lâu ngày, từng làm Cố vấn Kinh tế cho Tổng thống nên tôi rất tin anh nói đúng.
Ở nước ta, ngoài ông Nhu, cũng có các tổ chức, đảng phái có khuynh hướng “Xã hội Chủ nghĩa”, chẳng hạn như “đảng Xã Hội” của luật sư Nguyễn Hữu Thống, một luật sư nổi tiếng ở Saigon, người Bắc di cư 1954, hay “Dân Xã đảng” của “Đức Thầy”.
Năm 1946, ở ngoài Bắc, Việt Cộng ra sức tàn sát thành viên các “đảng phái Quốc gia”, sau khi họ đã giết hết các phần tử “Đệ Tứ Quốc tế” ở miền Nam. Đảng trưởng Đại Việt Trương Tử Anh, Duy Dân Lý Đông A, Quốc Dân Đảng như Phan Kích Nam... đều bị Hồ Chí Minh và “đệ tử” của ông giết cả.
Nhiều lãnh tụ và đảng viên đảng phái Quốc Gia phải trốn khỏi Hà Nội và Bắc bộ. Có người chạy qua Tàu như Nhất Linh, Hoàng Đạo, Nguyễn Tường Bách, Nghiêm Kế Tổ..., Có người trốn vào vùng “Công giáo tự trị” như Bùi Diễm, Ngô Đình Nhu... Có người phải chạy vào Nam như Nhị Lang, Hồ Hán Sơn, Nguyễn Bảo Toàn...
Giáo sư Nguyễn Bảo Toàn, khi vào Nam, ông về miền Tây với đức Thầy. Rồi “Dân Xã đảng” của đức Thầy ra đời. Có phải đây là “hiệp đồng” giữa đức Thầy với ông Nguyễn Bảo Toàn?
“Dân Xã đảng” là tóm tắt của mấy chữ: Dân chủ, Xã hội đảng. Cũng là “Chủ nghĩa Xã hội” đấy. Một “thứ” xã hội theo kiểu “Trại Ruộng” của Phật Thầy Tây An, Bửu Sơn Kỳ Hương. Có dịp tôi sẽ nói sau. “Trại ruộng” nầy hay vô cùng, đừng coi thường người Việt Nam ngày xưa cổ lỗ sĩ.
Trước khi ông Diệm làm tổng thống, chỉ một số trí thức Saigon, “băng” của ông Nhu, có biết “Chủ nghĩa Nhân vị” của ông Nhu, chớ dân chúng miền Trung và Huế, đâu có nghe ai nói gì về chủ nghĩa nầy. Bỗng sau khi ông Nhu làm “Cố vấn Tổng thống”, “Chủ nghĩa Nhân vị” của ông Nhu mới được tuyên truyền rộng rãi, nhất trong giới linh mục Thiên Chúa giáo, giới tín đồ Thiên Chúa giáo và công chức. Anh Suyền, Công An (Quốc Gia) phụ trách phường tôi, - phường Đệ Tứ, thị xã Quảng Trị, - thường nói chuyện “Nhân vị” với dân trong phường, với anh em chúng tôi.
Một lần, anh tới nhà tôi, lại nói về “Nhân vị”. Bấy giờ, nghe nói về “Nhân vị” hoài, người ta cũng chán, nên tôi lại nghe người ta nói: “Người thì có “nhân vị”. Chó thì có “khuyển vị”. “Không nên bắt chó ăn thịt”.
“Quốc sách” của Ngô Đình Nhu nói rằng “Tố Cộng là yêu nước” nên nhà lao Quảng Trị chứa nhiều “cán bộ Cộng Sản nằm vùng” bị bắt. Đời tù thiếu thịt, nên tỉnh trưởng Quảng Trị Nguyễn Văn Đông cho phép tù tổ chức “Xe bắt chó”, ngày ngày đi quanh thị xã bắt chó hoang về làm thịt ăn, bồi dưỡng... Nhà nào có chó bị bắt, muốn giữ chó lại thì gặp “Xe bắt chó” xin chuộc lại. Vì vậy mới có chuyện chuộc lại những con chó bị bắt và chủ nhà muốn chuộc lại cái “khuyển vị” của chó.
Kể lại chuyện này, tôi có hai ý:
Một, người dân “tôn trọng”, “ngưỡng mộ” Chủ nghĩa Nhân vị của ông Nhu như vậy đấy. Chẳng có ai bị chính quyền “hỏi han”, bắt bớ, “hề hấn” gì đâu. Nó cũng có nghĩa rằng ông Ngô Đình Nhu thất bại với cái chủ nghĩa ông ta bày đắt ra.
Hai, trong chế độ Cộng Sản, người dân nào mai mỉa Chủ nghĩa Mác-Lênin như vậy thì chỉ bị đi “học tập, cải tạo” bao nhiêu năm đó mà thôi hay “mút mùa Lệ Thủy” cũng không biết được?!
Tôi và anh bạn “nối khố” Lê Trọng Ấn được đi học một “khóa Nhân vị” ở Vĩnh Long. Ấn đang dạy ở trường Trung học Nguyễn Hoàng/ Quảng Trị. Tôi dạy ở Huế. Việc chọn người đi học, với các ông hiệu trưởng, chẳng phải là “đào tạo cán bộ, cán bung” gì đâu. Chẳng qua chọn người đi là “chiếu lệ”, “cho xong việc”, “đủ chỉ tiêu” mà thôi. Hai chúng tôi còn trẻ, chưa vợ con gì, ưa đi chơi, nhất là đi chơi xa, tuốt vô Vĩnh Long, nên được ông Giám Đốc nha Đại Diện Bộ Giáo Dục chọn cho “đi học” vậy.
Sau khi đi học khóa Nhân vị về, anh bạn của tôi quay 180 độ về quan điểm Thiên Chúa giáo của anh.
Năm lớp Nhất (1951), Ấn học trường Tê-Rê-Xa của chị Cần, hiệu trưởng, anh ta “mê đạo Chúa”. Chỗ anh ngồi học, nhà trên đường Quang Trung, xưa tục gọi là “đường Trạm”, anh treo hình “Đức Mẹ”, “thánh giá”, xâu chuỗi... Năm học lớp Đệ Nhứt (1958), anh thường vô “quỳ nha thờ”, rủ tôi đi cùng. Tôi “ngồi chầu rìa”. Năm đầu dạy ở Trung học Nguyễn Hoàng, có lần Ấn rủ tôi lên “Nhà thờ La Vang, - năm ấy ông Thục chưa về Huế, nhà thờ nầy chưa nâng lên hàng “Vương cung Thánh đường”, - gặp Cha Tường, cha xứ nhà thờ nầy, nêu thắc mắc, tại sao Chúa Giê Su sinh ra con gái đứa đẹp, đứa xấu, để có người than cho thân phận như trong câu ca dao: “Người ta kẻ đón người đưa, Còn tôi đi sớm về trưa một mình.” Cha Tường bảo: “Đó là thử thách của Chúa”.
Trên đường về, Ấn nói với tôi: “Đó là một sự thử thách không thiếu tính ác”.
Sau khi học khóa Nhân vị về, Ấn bỗng “ghét” mấy ông “Cha nhà thờ”.
Học ở Vĩnh Long, trường thì có nội qui, tôi và Ấn, sau 10 giờ, giờ ngủ, thì tôi và Ấn nổi máu “lãng tử”, hai thằng rủ nhau nhảy hàng rào, ra phố uống cà-phê, không ít lần bị mấy ông Cha trẻ, bắt “trình diện xạc-cà rây”.
Từ đó, Ấn bỏ nhà thờ, “bỏ đạo”...
Nói cho thật lòng, ông Nhu là người biết cách chống Cộng. Cách chống Cộng, là cách “có nguyên tắc”. Nguyên tắc đó là gì?
-Một học thuyết chống một học thuyết.
Nghĩa là: Học thuyết của Cộng Sản là Chủ nghĩa Mác (Cộng Sản gom thêm chủ nghĩa Lê-nin) nên họ gọi là Chủ nghĩa “Mác-Lê”.
Người Quốc gia có chủ nghĩa gì để chống lại?
Chủ nghĩa Quốc gia?
Chủ nghĩa Quốc gia là chủ nghĩa như thế nào? Chưa có ai giải thích, chưa có ai hệ thống hóa...
Hỏi các vị lãnh đạo miền Nam, chắc họ cũng “ngọng”, không giải thích được vì họ là những người hành động, không phải là “lý thuyết gia”.
Có thể chủ nghĩa chống Cộng của người Quốc gia, của người Miền Nam là “Chủ Nghĩa Tam Dân”, là chủ nghĩa của Tàu, - của Tôn Văn -, mà Việt Nam Quốc Dân đảng làm mục tiêu cách mạng của họ, hay “Chủ nghĩa Duy Dân” của Lý Đông A, hay “Chủ nghĩa Dân tộc Sinh tồn” của Trương Tử Anh.
Có lẽ ông Nhu không “đồng ý” với mấy chủ nghĩa vừa nói, nên ông bày ra “Chủ nghĩa Nhân vị” của ông.
Việc làm nầy “hơi kẹt” bởi vì, cái “Nhân vị” mà ông Nhu chủ trương không có gì mới lạ cả. “Về nội dung, chủ nghĩa Nhân Vị (Personnalism) là góp nhặt tư tưởng của Emmanuel Mounier và Jacques Maritain, có xu hướng triết học đạo Thiên Chúa La Mã”.
Lại đạo Thiên Chúa!
Người Huế, với “nỗi đau” “thất thủ kinh đô”, 23 tháng 5 (âm lịch: năm Ất Dậu. Dương lịch là 1885), nên mỗi năm, nhà nhà, đền, miếu... đều có “cúng Âm Hồn”, cúng cho người tử nạn trong cuộc chiến tranh ấy.
Huế còn có “Đường Âm Hồn”, sau nầy là đường Nguyễn Hiệu. Huế có vua lưu vong (Hàm Nghi), có vua bị truất (Thành Thái), có vua bị bắt (Duy Tân), có sự tiếp tay của “Những tên thực dân mặc áo thầy tu”. Nỗi đau ấy còn nặng trong lòng người Huế yêu nước thì làm sao họ “nghe lọt” cái “Chủ nghĩa Nhân vị sặc mùi Thiên Chúa giáo” đó được.
Ngoài cái “mùi” ấy, Chủ nghĩa Nhân vị của ông Nhu lại cũng còn “sặc mùi Cộng Sản” nữa đấy. Thử hỏi “Trường Nhân Vị Vĩnh Long” không phải là “một dạng” của “Trường Đảng Trung ương” của Cộng Sản ở Hà Nội đó hay sao?
Có khác đấy.
Học “Trường Đảng” xong rồi, ra trường nhiều hy vọng có chức có phận, có ghế cao để ngồi. “Ăn trên ngồi trốc” trên đầu thiên hạ. Ngon lành!
Học xong “Trường Đảng” của ông Nhu, phải còn phải xin “vô đảng”, “xin rửa tội vô đạo”, “vô ra nhà cậu”, còn phải “đồng hương Quảng Bình” với cậu nữa, mới có “chút cháo”. Mệt quá! Mệt quá !!!
Còn như Ấn với tôi, học xong “Trường Đảng Vĩnh Long” về, đi đâu cũng “phát biểu linh tinh”, bị mấy anh “tân tòng” báo cáo với Công An, chưa ở tù là may, chớ hy vọng có cơm cháo gì nữa...
Mới đây, gặp mấy đứa “Du học sinh Việt Nam” ở Mỹ, tôi nói: “Mấy đứa bây học xong ở Mỹ, nên ở lại Mỹ cho “Tư bản Mỹ nó bóc lột”. Còn như về Việt Nam thì phải gắng vô cho được “Trường Đảng Trung ương”. Ở với Việt Cộng mà không xuất thân Trường Đảng thì đời không có xơ múi gì đâu.”
Nguyên tắc thứ hai là Kinh tế:
Kinh tế Tư sản chống Kinh tế Vô sản. Thời Cộng hòa, tổng thống Thiệu chủ trương “Người cày có ruộng”. Sau 1975, thời Cộng Sản, “người cày mất ruộng”, ruộng vô “hợp tác xã” hết, ruộng còn đâu !!!
Nguyên tắc thứ ba là Văn hóa:
Văn hóa Dân tộc chống Văn hóa Vô sản.
Nguyên tắc thứ tư là Tôn giáo:
Căn bản là Duy tâm chống Duy vật.
Nguyên tắc thứ năm là giáo dục:
Giáo dục Nhân bản chống Giáo dục phải có “đảng tính”. Vậy là xong...
Chiến tranh Việt Nam là “Chiến tranh Nhân dân”. Không có nhân dân thì không thể chiến thắng. Ai có chính nghĩa thì Nhân dân ủng hộ, hoan hô...
Cộng Sản biết bóc lột, lợi dụng, tuyên truyền, mị dân... Chiến tranh chống Cộng là chiến tranh Nhân dân, toàn dân, toàn diện... Ông Nhu biết như thế nhưng “không làm được”.
Tại sao?
Những nguyên tắc căn bản ở trên do tôi góp nhặt qua nhiều tài liệu, sách báo... ghi lại. Nó không dễ dàng để có thể bàn khơi khơi ở đây. Bởi vì, như tục ngữ nói, tôi “biết một mà không biết hai”. Chống Cộng bao gồm nhiều, - hay có thể nói -, toàn diện, bao gồm toàn mọi lãnh vực: kinh tế, văn hóa, giáo dục... làm sao tôi biết hết, nói hết được...
Tôi kể một kinh nghiệm để quí vị nghe.
Tôi vượt biên đến Bidong ngày 1 tháng 6 năm 1989, sau ngày “đóng cửa đảo” (tiếng Mỹ gọi là “Cut off date”), là ngày 14 tháng 3, cùng năm, nên bị “thanh lọc” (Screening), coi có phải là người “tỵ nạn chính trị” hay không, hay “tỵ nạn kinh tế”. “Tỵ nạn kinh tế” thì bị đuổi về quê.
Đây là một màn “phù thủy” của “Bọn Tư bản”, mệnh danh là “Thế Giới Tự Do”, đứng đầu là Mỹ. Năm 1991, “Thế giới Cộng Sản” sụp đổ thì vở tuồng chống Cộng bằng “tỵ nạn Cộng Sản” nên kéo màn cho xong, còn để làm chi cho tốn tiền thuê “đào kép”.
Vậy nên tôi bị “thanh lọc”, tức là bị một “phái đoàn”, gồm 2 người. Một người là sĩ quan (nước chủ nhà, Mã Lai chẳng hạn), và một luật sư đại diện Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, (quốc tế, do Liên Hiệp Quốc thuê hay luật sư tình nguyện, nước nào cũng được. Trường hợp tôi, luật sư là người Hòa Lan).
Thông thường, sĩ quan nước chủ nhà là một sĩ quan cấp úy. Trường hợp tôi là một thiếu tá tình báo Mã Lai. Tại sao lại là một thiếu tá? Vì tôi mang “loon” đại úy, trong lý lịch lại có “cộng tác” với “xịa” – Việt Cộng chụp cho tôi cái mũ là “đại úy Phương hoàng CIA” nên bọn họ muốn “lấy loon đè người” như kiểu ở một vài “ông quan” trong Quân đội VNCH hay sao ?!
Sau khi nói về lý lịch, hỏi “lý do rời VN”.
Tôi trả lời:
-“Tôi bị Cộng Sản bỏ tù, 7 năm 10 ngày. Trước khi miền Nam sụp đổ, tôi là một sĩ quan của chính quyền Miền Nam chống Cộng. Sau khi ở tù về, tôi vẫn chống Cộng, tôi là thành viên trong “Hội Nhân Quyền VN”, đứng đầu là luật sư Trần Danh San, một người tôi từng quen biết khi chúng tôi cùng là sinh viên Viện Đại Học/ Huế.
Tuy là người chống Cộng, nhưng tôi biết, trong cuộc “Chiến Tranh Đông Dương lần thư hai” vừa qua, miền Nam và ngay cả Mỹ, không thể thắng Cộng Sản.
-“Tôi muốn ông nói rõ hơn nhận xét nầy của ông.” Viên thiếu tá tình báo Mã Lai nói.
-“Như ông biết, Rashid Maidin và Trần Bình vừa ra đầu hàng chính phủ Mã Lai”. Tôi nói.
- “Sao ông biết chuyện nầy?” Viên thiếu tá Mã Lai lại hỏi.
-“Ông biết hai ông nầy ra hàng không? Bởi Cộng Sản Mã Lai không được “lợi thế” như Cộng Sản VN... Họ hết đường rồi. Trung Cộng “buông” họ rồi”.
Sau đó, tôi nói thêm: Về địa lý, bán đảo Mã Lai hai bên là biển, phía Bắc là Thái Lan, phía Nam là Tân Gia Ba, không nước nào là Cộng Sản, nên “hậu cần” Tàu Cộng không tiếp tế cho Mã Cộng được.
Với lại, có một điều rất căn bản, tôi không biết ông có lưu ý không?
-“Điều gì?” Viên thiếu tá Mã Lai hỏi.
-“Tôn giáo. Rõ ra là Hồi giáo. Tôi không rõ các nước ở Trung Á như thế nào! Nếu có, có lẽ vì sự “độc tài” mà thôi. Còn người theo đạo Hồi thì không theo Cộng Sản bao giờ. Ít khi có những nước “Hồi giáo/ Cộng Sản”. Ở Tây phương, có không ít người bỏ Chúa Giê-Su mà theo Marx. Đạo Hồi ở Mã Lai mạnh lắm, là “quốc giáo”.
-“Người Việt Nam của ông có vậy không?” Viên thiếu tá hỏi.
-“Thiếu gì!” Tôi nói. “Ngay Hồ Chí Minh đã là người “quay lưng” rồi, nói chi tới các đồ đệ của ông ta.
-“Chuyện như thế nào?” Hỏi.
-“Trong di chúc của ông Hồ, ông viết: “Vì vậy tôi để lại mấy lời nầy, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi. Fòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê-nin và các vị cách mạng đàn anh khác... (1)
Vả lại, người Mã Lai cũng “kỵ” người Tàu.”
-“Tại sao ông nói thế?” Giọng nói của viên thiếu tá hơi căng.
-“Tôi xin lỗi phải nói vậy” - Tôi nói – “Nhưng tôi nghĩ tâm lý người Mã Lai cũng như tâm lý nhiều dân tộc Đông Nam Á giống nhau. Bởi vậy, nên bên cạnh Trần Bình, phải có Rashid. Không có Rashid, Trần Bình, người Tàu, có nói gì, người Mã Lai không nghe theo.”
Nghe tôi nói xong, viên thiếu tá Mã Lai dựa người vào lưng ghế, cười.
Tôi nói:
-“Nhân tiện đây, tôi hỏi ông. Ông có biết Lai-Teck là người Việt Nam không?”
-“Tôi có nghe nói tới Lai-Teck!” Viên thiếu tá trả lời.
-“Lai-Teck là đệ tử ruột của “Thầu Chín” đấy.”
-“Thầu Chín” là ai? Tôi không biết!”
-“Là Hồ Chí Minh đấy, lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam.”
Viên thiếu tá lại “à” một tiếng, lại ngồi dựa lưng vào ghế.
Tôi nói:
-“Lai Teck sinh năm 1901, quê ở Bà Rịa, một tỉnh ở miền Nam VN, cha là người Việt, mẹ ông người Tàu. Ông ta học hành ở quê, rồi học ở Saigon, theo Cộng Sản. Làm mật báo viên cho Mật Thám Tây, rồi lại bị Mật Thám Tây nghi ngờ, ông ta trốn sang Thái Lan, vùng phía Bắc thủ đô Vọng Các. Ở đây, ông gặp “Thầu Chín”, trở thành “đệ tử ruột” của ông này. Nhờ “Thầu Chín”, Lai-Teck đi Liên Xô để học làm cán bộ Cộng Sản Quốc Tế. Xong, y về Hông-Kông, rồi đi Singapore, hoạt động cho Đệ Tam Quốc Tế. Ở Singapore, y lại làm tình báo cho Anh. Đến khi Nhật chiếm đóng hòn đảo nầy, y lại làm tình báo cho Kempeitai. Thành ra y là người làm tình báo “ba mang”, cho ba đế quốc ở Đông Nam Á: cho Pháp, cho Anh, cho Nhật. Tôi “khoái” y là vì vậy.”
-“Y bị giết?” Viên thiếu tá hỏi.
-“Y bị phó của y là Trần Bình bóp cổ cho đến chết.” - Tôi phân tích như thế nầy: “Nếu y là người Việt, y bị người Tàu giết; nếu y là người Tàu thì y bị chính người Tàu giết”. Ông thấy không, chính trị thật kinh tởm. “Tình báo Chính trị” lại kinh tởm hơn. Cùng là người đồng hương, cùng lưu lạc quê người, cũng giết nhau.”
-“Tại sao ông nói thế?
-“Tại vì Lai-Teck là người Việt lai Tàu. Tên Việt Nam trong khai sinh là Phạm Quang Đăng.”
-“Tài liệu nầy của CIA?” Viên thiếu tá hỏi.
-“Tôi là người mê sách. Tôi đọc lung tung. CIA ở đâu thì không thiếu, tôi nghĩ vậy. Nhưng sách báo VN Cộng Hòa không phải là không có đâu. Đọc và nhớ là quan trọng, nhất là lịch sử. Lịch sử hay lắm chớ!
Tôi nói tiếp:
-“Trong ngành tình báo, dù “Tình báo Chiến lược”, “Tình báo Chiến thuật”, hay “Tình báo Nhân dân”, không có cái nào có trái tim cả.”
-“Ông làm trong ngành tình báo nào? Viên thiếu tá hỏi.
-“Tình báo Nhân dân”. Chiến tranh Việt Nam là “Chiến tranh Nhân dân”. Vì vậy, người Mỹ đến VN, chỉ có thua và bại, chạy trối chết, (running for life). Tôi đang viết một cuốn sách về “Chiến tranh Nhân dân/ Tình báo Nhân dân”, từ kinh nghiệm Chống Cộng của tôi.
-“Xong chưa?” Hỏi.
-“90%.” Tôi trả lời.
-“Ông cho tôi xem được không?”
-“Được chứ. Tôi xin phép về phòng lấy.”
Rồi tôi đi về phòng. Tập bản thảo của tôi viết trên giấy quay ronéo. (Giấy do anh bạn Võ Văn Loan - hiện định cư ở Lancaster cho. Ở “trại tỵ nạn Bidong”, Loan làm việc ở “Khối Giáo Dục” của Cố Vấn Tieou).
Tôi cầm tập bản thảo đưa cho viên thiếu tá tình báo Mã Lai. Tôi cho ông ta xem “Lời nói đầu” - do ông Phạm Đình Chiến, hiện ở Orange County, cử nhân Anh Văn của Viện Đại Học Saigon, trước 1975, dịch ra tiếng Anh.
Xem qua xong, viên thiếu tá tình báo Mã Lai nói:
-Tôi có hai điều muốn nói với ông. Hôm nay, không còn là một cuộc “Phỏng vấn Thanh lọc” (Screening Interview) nữa. Đây là cuộc nói chuyện tình báo thích thú mà tôi chưa từng nói chuyện với ai. Thứ hai, cuốn sách của ông, tôi nghĩ rằng nó có ích cho mọi người, không những cho ngành tình báo mà kể cả những ai yêu thích môn lịch sử.
Cuối cùng viên thiếu tá tình báo Mã Lai bắt tay tôi rất chặt. Qua cái bắt tay đó, tôi biết tôi “đậu thanh lọc”.
Tôi nói:
-“VN thì khác: Bắc Việt, Lào, Kampuchia là những con đường cho Cộng Sản tiếp viện người và súng đạn cho Cộng Sản miền Nam VN. Hễ Cộng Sản chiếm được toàn thể nước VN rồi, thì Đông Dương, Thái Lan, Mã Lai đều bị nhuộm đỏ hết, nhuộm xuống tới Indonesia. Úc, Tân Tây Lan đều phải đối đầu trực diện với Cộng Sản.
Vì vậy, trong tình hình Mỹ/ Tàu bắt tay với nhau, Tàu phải buông Trần Bình, cho Mỹ “vui lòng”.
Tôi nói viên thiếu tá Mã Lai:
-“Miền Nam chúng tôi, thua Cộng Sản là vì Lào đấy.”
-“Sao lại vì Lào? Hỏi
Tôi giải thích:
-“Trong quá trình Cộng Sản miền Bắc xâm lăng miền Nam, “Hội nghị Trung lập/ Hòa bình về Lào” là một thủ đoạn rất khôn ngoan của Cộng Sản Quốc Tế, đánh lừa được tất cả các nước tư bản. 14 nước và phe phái ký cam kết tôn trọng nền trung lập của Lào, không can thiệp vào công việc nội bộ của Lào, lôi kéo Lào vào liên minh quân sự hay thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ Lào là sợi giây buộc tay, buộc chân miền Nam VN.
Năm 1962, đài BBC và VOA đưa tin “Hội nghị Trung lập về Lào”. Tôi lưu ý về việc đại úy Nhảy dù Kong-Le làm đảo chánh, về việc “Ông hoàng đỏ” Souphanouvong - ông nầy có vợ VN, dòng Ngụy Khắc Đản, làm phó “Sứ bộ Phan Thanh Giản” – và về ông hoàng Boun Oum chống Cộng.
Sau khi đến Mỹ, đến thăm một người anh, bà con bên mẹ tôi, Tiến sĩ Phan Văn Thính, từng làm Tổng Thư Ký Bộ Ngoại giao VNCH, nói với tôi rằng “Hội nghị 1962” về Lào có lợi cho Cộng Sản Bắc Việt, vì Cộng Sản Bắc Việt đã núp dưới cái bóng hiệp định nầy để đem quân xâm lăng miền Nam. Trong khi phía Mỹ và Thế giới Tự do, dù có biết hay không, họ đều làm ngơ cho Bắc Việt tự tung tự tác. Sự kiện nầy đóng một vai trò quan trọng trong việc “Cộng Sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam”.
Từ 1959, Cộng Sản Bắc Việt bí mật mở “đường Trường Sơn 5/ 59 – cái gọi là “đường mòn Hồ Chí Minh”, tiếp tế qua lãnh thổ Lào “trung lập” nhằm chi viện cho lực lượng Cộng Sản ở miền Nam. Tình hình nầy khiến VNCH tổ chức cuộc hành quân Lam Sơn 719 hồi tháng 2 năm 1971. Từ Bộ Chỉ huy Thiết giáp ở Gò vấp, tôi chỉ mới ra tới Khe Sanh thì bị đại tá Phan Hòa Hiệp “đuổi về”. Chuyện bị “đuổi về nầy khá buồn cười. Tuy nhiên, ông Ngô Đình Nhu là một nhà “chiến lược” của VNCH, tại sao không thấy ông ta nói gì về “Hội nghị Trung lập về Lào” hay ông ta đang âm mưu bắt tay với Cộng Sản Hà Nội. Nếu việc bắt tay với Hà Nội mà có thực, “hội nghị về Lào” trở thành vô hiệu. Cộng Sản không còn hy vọng gì nhuộm đỏ cả vùng Đông Nam Á. Ông Nhu đi “tay trên” Mỹ/ Nga và Trung Cộng một nước cờ rồi đấy.
Sự kiện nầy và cái chết của anh em Diệm Nhu năm 1963, làm chúng tôi có nhiều suy nghĩ.
Sau khi ông Nhu qua đời, dư luận báo chí thời bấy giờ có nói tới việc ông Nhu bắt tay với Cộng Sản. Ông Nhu giả dạng đi săn thú ở Võ Đắt/ Võ Xu để gặp Phạm Hùng, đại diện cho phía bên kia để bàn chuyện hòa bình!
Chuyện “bắt tay” nầy có thật hay là “chuyện bịa” của người Mỹ để họ làm nhẹ tội cho họ vì họ đã giết hai (2) người VN yêu nước.
Cũng có người cho rằng anh em Diệm Nhu đã bị Hồ Chí Minh đánh lừa. “Chiến tranh Đông Dương” sở dĩ có là do hai khối Cộng Sản và Tư Bản cố ý tạo ra. Nó đâu thuộc quyền hạn anh em Diệm Nhu hay Cộng Sản Hà Nội mà hai phe nầy tính chuyện chấm dứt hay tồn tại chiến tranh. Sao mà họ còn “ngây thơ” chính trị thế!
Trong viễn tượng đó, về phía Cộng Sản, Hồ Chí Minh và băng đảng của ông đưa ra một nhân vật cấp thấp, không đủ quyền hạn gì mà nói chuyện đại sự với ông Nhu. Ông Nhu có lén lút bàn chuyện chiến/ hòa với Phạm Hùng, tình hình sẽ chẳng đi tới đâu. Cái đầu của Cộng Sản Hà Nội nằm ở Bắc Kinh/ Mas-cơ-va chớ không ở Bắc Bộ Phủ.
Về phía anh em ông Diệm, anh em ông phải biết do thế lực nào mà ông Diệm về cầm quyền ở Miền Nam VN chứ?! Đó không phải là thế lực Mỹ và thế lực Thiên Chúa giáo - qua “vai trò” Hồng y Spellman và Hồng y Agagianian hay sao??!! -
Anh em nhà Ngô đi con đường ngược chiều với hai thế lực đó, không phải là “tự đề án tử” cho mình hay sao ?!)
Khi mới cầm quyền anh em Diệm Nhu gặp nhiều may mắn, nhiều người ủng hộ, giới chính trị miền Nam cũng ủng hộ họ. Lúc đó, anh em Diệm Nhu không có một lực lượng trên báo nào. Về phía quân đội, phòng 2, phụ trách tình báo, lại năm trong tay Trần Đình Lan, phe tướng Hinh. Công an Cảnh sát lại nằm trong tay Bảy Viễn, cũng là người của Tướng Hinh luôn. Lúc đó Trần Kim Tuyến chưa có vai trò gì. Trần Kim Tuyến nổi tiếng “trùm mật vụ” là đối với thành phần quốc gia, chưa có quan hệ chặt chẽ với phía Mỹ, phía CIA. Không ai nói ông Nhu là người có khả năng về tình báo, còn thua Ngô Đình Cẩn. Về sau, khi có được Trần Kim Tuyến rồi thì công việc tình báo, ông Nhu giao hẵn cho ông Tuyến.
Cách đây khoảng 30 năm, trung tá Phạm Thư Đường nguyên là chánh văn phòng của ông Nhu đến định cư ở Boston. Do một sự may mắn, quen biết với ông Phạm Thư Đăng, tôi gặp cụ Phạm Thư Đường, hỏi thăm một đôi nét về ông Ngô Đình Nhu. Cụ Pham Thư Đường cải chính về việc có dư luận nói rằng ông Nhu là người “đi mây về gió” (hút thuốc phiện), ông Nhu có dự tính đặt thêm chức thủ tướng chính phủ, về mặt tình báo, giao hẳn cho bác sĩ Trần Kim Tuyến. Khi ông Tuyến thôi làm trùm mật vụ, ông Nhu như “cụt tay”, không có ai đáng giá để ông Nhu nhờ cậy. Ông Nhu tin tưởng vào tướng Đính. Việc tin tưởng đó, đưa tới cái chết thảm của hai ông Diệm Nhu.
*
Sau khi Mỹ/ Tàu bắt tay với nhau thì Tàu ngưng “dòm ngó” xuống phía Nam. Rashid, Trần Bình đầu hàng là vì vậy. Với lại, tôi nói với viên thiếu tá Mã Lai: “Đánh nhau với Cộng Sản, dù ở VN hay bất cứ nơi nào trên thế giới, “Đế Quốc Mỹ” bao giờ cũng ở cái thế thua, mặc dù quân đội Mỹ được trang bị bằng các loại vũ khí tối tân nhất”.
Ông ta hỏi tôi: Tại sao?
Tôi trả lời:
-“Nhân dân. Chính quyền nào, quân đội nào... có được nhân dân là có tất cả. Sách lược Cộng Sản là như thế, ở đâu họ cũng vậy cả.
-“Ông nghĩ là Cộng Sản có nhân dân theo họ?
-“Dân theo hay không theo, họ cũng phải “kẹp cổ” cho được nhân dân, bằng mọi cách: tuyên truyền, mị dân, mua chuộc, đe dọa, khủng bố, tù dày, giết chóc... Không có gì họ không làm để có nhân dân. Họ biết nếu không có nhân dân, họ phải làm cho có nhân dân vậy. Cộng Sản Mã Lai, mấy chục năm nay, Rashid/ Trần Bình ở trong rừng già, không có nhân dân, sống ngắc ngoải bằng sự tiếp tế không được dồi dào của Trung Cộng, nên phải đầu hàng...”
-“Việt Nam thì khác?” Viên thiếu tá Mã Lai hỏi.
-“Khác! Mà khác nhiều. Chiến tranh VN người ta gọi là “Chiến tranh Nhân dân”. Nhìn theo nhãn quan quốc tế, thì đó là “Thế chiến Nhân dân”, bởi vì chiến tranh VN là một cuộc “Thế giới Chiến tranh” thu nhỏ lại, là cái “van” xả hơi của “Chiến Tranh lạnh”. Đằng sau “hai nước” VN là “Thế giới Cộng Sản” đối đầu với “Thế giới Tư Bản”. Đó là hai hậu phương. Hễ hậu phương nào quay lưng lại là bên đó thua. Chúng tôi thua vì “Thế giới Tự Do” quay lưng lại với chúng tôi. Nói thật sát nghĩa là chúng tôi bị “Đế quốc Mỹ” bỏ rơi.
-“Tại sao ông biết?
-“Nhiều người biết đấy, ngay từ khi “Đoàn bóng bàn Mỹ” đang ở Nhựt qua đấu giao hữu ở Bắc Kinh, ngay khi Kissinger từ thủ đô Kathmandu của Népal lén lút đi Bắc Kinh năm 1970. Chúng tôi biết mà không làm gì được. Gây ra “Chiến tranh Đông Dương” là do Mỹ, chấm dứt chiến tranh cũng do Mỹ.”
-“Ông biết tại sao?”
-“Quyền lợi. “Có quyền lợi là có tư bản”. Sau khi Kissinger đi Tàu, dân trí thức Saigon có câu nói đùa “Mỹ đang gạ bán Coke cho Tàu Cộng để làm giàu”.
-“Chính phủ của ông không có nhân dân? Hỏi.
-“Nguyên tắc dân chủ phải là có một chính phủ “của dân”, “do dân” và “vì dân”. Chúng tôi muốn đi theo con đường nầy của Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln, người đã nói câu ấy. Nhưng, thật nghịch lý, đích danh là chính phủ Mỹ ngăn cản miền Nam chúng tôi muốn biến câu nói trên thành hiện thực trên đất nước chúng tôi. “Chiến Tranh lạnh” càng căng thẳng thì cái thòng lọng của Mỹ quanh cổ chế độ Cộng Hòa của chúng tôi càng chặt.
Dù tôi là người chống lại các nhà lãnh đạo nước VNCH thời kỳ thứ nhất (Đệ Nhất VNCH), nhưng phải nói rõ ra rằng thời kỳ ấy, nước VN độc lập hơn, và biết cách chống Cộng hơn.
-“Biết cách chống Cộng đó là như thế nào? Hỏi.
-“Cách chống Cộng phải đặt trên nhiều nguyên tắc. Nguyên tắc quan trọng nhất là Nhân Dân. Chính quyền miền Nam thời kỳ ấy biết cách “nắm lấy nhân dân”.
-“Nắm như thế nào? Lại hỏi.
-“Là “Quốc sách Ấp Chiến Lược” (Strategic Hamlet National Policy). Đây là phương cách chống Cộng căn bản. Ông Ngô Đình Nhu là một người có trình độ học vấn cao, giỏi về sách lược chống Cộng. Ông gom một ít Kholkhoze (Công xã) của Liên Xô, một ít Kibbutz (Định cư Nông nghiệp) của Do Thái mà đẻ ra “Quốc sách Ấp Chiến Lược” của ông ta. Có thể nói như thế nầy, cụ thể là “hình ảnh” nông thôn: “Tát nước bắt cá”. Và... không thành công.
-“Không thành công?” - Viên thiếu tá Mã Lai ngạc nhiên! –“Ông có tìm hiểu về sự thất bại nầy không?”
-“Cần gì phải “tìm”. Thất bại là rõ ràng trước mắt, ai chẳng thấy!
-“Tôi muốn biết nguyên nhân thất bại nầy. Viên thiếu tá nói.
-“Một là cán bộ. Cán bộ là nền tảng chế độ - Tôi nói - “Cán bộ Trung ương” hay “Cán bộ Địa phương” ông Nhu đều thiếu. Khả năng thiếu, đạo đức cũng thiếu. Khi được bổ nhậm làm tỉnh trưởng, quận trưởng một địa phương nào đó, người ta hỏi nhau: “Tỉnh ấy có giàu không?”, “Quận ấy có tài nguyên gì?”. Thế thì còn “lo cho dân cái gì nữa”.
Hỏi như thế là nhằm ý gì?” Đại tá Nguyễn Đức X., (dân QT tui - tg), phải là “đệ tử” ông Diệm, mới được làm tỉnh trưởng Gia Định. Ông Kỳ làm thủ tướng (Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương), “đệ tử ruột” của ông Kỳ (cố trung tá Lê Ngọc Tr.) làm Cảnh Sát Trưởng Quận 5/ Chợ Lớn, không làm cho người dân nhìn mà lắc đầu sao?!
“Không có cán bộ thì ông Nhu làm được gì! Một người bạn của ông Nhu nói với ông ta: “Anh làm cách mạng cái gì, khi anh không có cán bộ. Người của anh là những “cai khố xanh”, “đội khố đỏ”, những tay làm tri phủ, tri huyện cho Tây, tay sai cho Nhựt. Cán bộ như thế thì làm cách mạng cái gì.” Ông Nhu trả lời: “Lịch sử cho chúng ta chừng đó”.
Rồi ông Nhu mở các lớp đào tạo cán bộ cao cấp, như Trại Suối Lồ Ồ chẳng hạn. Trong các lớp học ấy, ông Nhu nói cứ nói - ông ta ưa nói -, học viên ngủ cứ ngủ. Vậy là xong. Vậy là, thay vì ngăn chận Việt Cộng từ bên ngoài tấn công vô “Ấp Chiến Lược” thì kết quả “Việt Cộng từ trong Ấp Chiến Lược bắn ra”. Người ta mai mỉa công trình của ông Nhu như vậy đấy. Mà, ông có biết, người nói câu ấy là ai không?
-“Người nào?’
-“Đổng lý Văn phòng Tổng thống Ngô Đình Diệm. (ông Quách Tòng Đức).
-“Và... cái gì đau lòng xảy ra!” Tôi nói.
-“Thay vì, Ấp chiến lược là nơi phát triển đời sống của nông dân: Nông nghiệp tăng năng xuất, buôn bán phồn thịnh, trường học được mở thêm, y tế được mở thêm ... thì “Ấp Chién Lược” chẳng có gì cả. Nó chỉ là “Nhà Tù”. Sống tập trung, nhà cửa tập trung, trong vòng rào, chung quanh ấp là hàng rào “cọc sắt, kẽm gai”. Tối lại, mọi người lo về nhà sớm, sợ “Ấp chiến lược” đóng cửa. Ai ở nhà nấy. Sáng ra, trời sáng bạch, “Ấp Chiến Lược” mới mở cửa, người dân mới được ra đồng, làm ruộng, đánh tôm, bắt cá... Không là “nhà tù” thì là cái gì nữa? Sau khi Diệm Nhu chết rồi, không cần chính phủ Dương Văn Minh ra lệnh, dân chúng cũng tự động “phá Ấp Chiến Lược”. “Quốc sách” của ông Ngô Đình Nhu thành công cái gì đâu?!
“Phá Ấp Chiến Lược” là việc phải đến. Dân chúng “tự giải phóng” cho họ đấy, không cần Việt Cộng truyên truyền, vận động.
Nước Úc viện trợ cho VNCH cọc sắt, kẽm gai để rào “Ấp Chiến Lược” chớ có “viện trợ nhân đạo, hòa bình” gì đâu. Ông Dương Văn Minh lên cầm quyền, thay thế Diệm Nhu, ra lệnh “phá bỏ (?) Ấp Chiến Lược”, chính quyền “tháo khoán” hàng viện trợ Úc, ông anh tôi đang làm việc tại tòa Hành Chánh tỉnh QT, cho xe chở về một đống “cọc sắt” Úc viện trợ để làm hàng rào quanh nhà.
Chục năm sau, khi tôi về làm việc ở Cái Sắn, Hà Tiên, kinh nghiệm thực tế cho tôi thấy rõ hơn cái sai rất lớn của ông Ngô Đình Nhu.
Tình hình là như thế nầy.
Đời sống người dân là cần nước ngọt. Vì vậy, người dân phẩi làm nhà hai bên bờ kinh: kinh đào, kinh xáng, kinh thiên nhiên... để lấy nước ngọt. Trong viễn tượng đó, khi quí vị về miền Tây, về Sadec, An Giang, Kiên giang, hai bên những con kinh lớn, kinh nhỏ hay “kinh cùng, rạch chẹt”, quí vị sẽ thấy nhà nhà đều năm hai bên bờ, nhà nầy sát nhà kia, có nhà có một khu vườn nhỏ, trồng rau, trồng cà...
Khi dựng “Ấp chiến lược”, tất cả các nhà nầy đều được gom vào một khu vực, hình vuông, hình tam giác, bát giác... còn tùy.
Dân không muốn vào “ấp chiến lược” thì sao?
Có “lính quận”, “lính tỉnh” hành quân tới, ra lệnh cho dân biểu đi. Ai bất tuân có “biện pháp” đấy: Đánh! Đạp, đá đít... Nổ súng đe dọa, “kéo cổ ra khỏi nhà”, đốt nhà (nhà lá, vách đất, vách lá... chỉ một “mồi lửa là xong”). Ai không đi được không? Ai cũng phải đi. Chế độ VNCH “phục vụ nhân dân” đấy.
Cuối năm 1973, tôi “kiểm tra hồ sơ Phượng Hoàng” cũ, đã mấy năm không ai xem, để xem lại. Một bản tin của “Trung tâm Phượng Hoàng tỉnh Châu Đốc” gởi tới, tóm tắt như sau: Một nhóm dân chúng quận Tri Tôn/ Châu Đốc, bị buộc dời vô “Ấp Chiến Lược” bên đó. Nhóm dân nầy do một người, tên thường gọi là “Ông Đạo Sáu” lãnh đạo, không tuân lệnh chính quyền, bèn kéo qua tỉnh Kiên giang, lập một xóm mới, sống riêng biệt. Xóm mới nầy được gọi là “Xóm Đạo” – đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa” – nằm bên kia kinh Rạch Giá / Ha Tiên. Đường Liên Tỉnh 80 ở phía bên nầy kinh; bên kia không có đường lộ, người dân di chuyển bằng “xuồng ba lá”. Từ “Xóm Đạo” đi ngược lên phía Bắc là ruộng hoang, rừng hoang, kinh rạch chằng chịt, giáp ranh với tỉnh Châu Đốc. Ranh giới này là “kinh Kháng Chiến” đào hồi “kháng chiến chống Pháp (45-54), là “Đường giây 1C” – (ám danh quân sự), đường di chuyển của quân Cộng Sản Bắc Việt, từ Kampuchia đến tỉnh Chương Thiện của VNCH” –
Cầm bản tin của Ủy ban Phượng hoàng tỉnh Châu Đốc, tôi hỏi trung úy Kiệt, phụ tá đặc biệt: “Ông biết vụ Xóm Đạo nầy không?”
Kiệt nói: “Tui biết, xóm Đạo nầy ghê lắm. Năm ngoái, có một anh lính Nghĩa quân lang thang qua đó, bị giết ngay trước cổng chùa.”
-“Ai giết? Tôi hỏi.
-“Chắc là Việt Cộng!”
-“Sao lại “chắc là”?” Tôi hỏi.
-“Bên An Ninh Quân Đội điều tra. Em không rõ.” Tôi hiểu cách đổi xưng hô của ông Kiệt. Tôi nói, không còn gay gắt:
-“Nên họp “Phượng Hoàng”, trao đổi tin tức. Ông không thấy “họp Phượng Hoàng”, thiếu úy Ra báo tin thằng Tư Ngọc xuất hiện thâu thuế. Thám Báo Chi Khu phục kích, giết Tư Ngọc, vơ một mớ tiền “kinh tài Việt Cộng.”
Thiếu úy Kiệt ngây thơ: “Vụ đó ngon ghê!”
Tôi nghĩ thầm trong lòng: “Ngon gì! Việt Cộng kinh tài/ Tiền và máu. Chiến tranh Việt Nam. Ai huynh ai đệ? “Anh em ta, cùng mẹ cha, câu chuyện cũ, theo tích xưa...”
Tôi biểu trung úy Kiệt, lập “hồ sơ Xóm Đạo”.
Mấy ngày sau, trung úy Kiệt đưa cho tôi một hồ sơ. Trong đó, có một ờ đơn xin thành lập “hợp tác xã nông nghiệp” của xóm Đạo, do “ông chủ chùa” đứng tên xin. Đơn này trung úy Kiệt lấy ở phòng tư pháp. Tôi gọi phòng Tư pháp gọi ông Phạm Bình An lên tôi gặp.
Tôi không làm cuộc điều tra. Tôi mời ông ra phòng khách uống nước trà, “nói chuyện cho vui”... Mục đích là để hỏi thử ông Đạo Sáu bây giờ đâu? Ông “chủ chùa Phạm Bình An” cho biết ông Đạo Sáu đã lên Sài Gòn, làm “thầy thuốc bắc”, chữa bệnh cho cô Phan Lan Hương, là cháu của phó tổng thống Trần Văn Hương. Và là ông Đạo Sáu đang ở Phủ Cây Tùng, tức là Phủ Phó Tổng thống. Tôi đúc kết. hồ sơ gởi về trung ương. Vài tuần sau. Tôi được lệnh ra trình diện. “Phái đoàn Trung ương” về việc ông Đạo Sáu. Trung ương cho rằng tôi nói bậy, nói sai. Làm gì có chuyện ông Đạo Sáu, một cán bộ Cộng sản ở trong Phủ Cây Tùng, do tôi, một “cán bộ ruộng” – chỉ làm việc ở ruộng rẫy mà thôi, chưa từng ở thành phố, nói chi Saigon -, phát hiện ra. Tôi trình bày vấn đề và mọi giấy tờ cho phái đoàn xem. Nhưng rồi tôi lại phải đưa phái đoàn đi ăn nhà hàng, rất tốn tiền. Dân nhà quê dễ bị cấp trên bắt nạt. Thành ra, tôi nghĩ: Làm việc, người làm việc có thiện chí và lương tâm, thường bị thiệt thòi. Chính quyền miền Nam, “lấy loon đè người” là vậy.
Năm 1981, khi còn trong “tù Cải Tạo”, chuyện trò với đại úy Nguyễn Văn Bỉnh, nguyên trưởng phòng 2/ Chi Khu Tri Tôn, tình cờ nói tới ông Đạo Sáu, ông Bỉnh cho biết thêm: Đạo Sáu là “bí thư đảng bộ” Tri Tôn/ Châu Đốc. Đang ở Phủ Cây Tùng thì y ta trốn đi. Ngày 1 tháng 5/ 1975, y là một trong những tên Việt Cộng vào tiếp thu chính quyền ở tỉnh lỵ Châu Đốc.
Trong “Ấp Chiến lược” nhà nhà gom lại, sát cạnh nhau, không có kinh rạch gì cả, thiếu nước dùng, nước uống, thiếu đường đi.
Có những ông công chức cao cấp, những ông sĩ quan “loon” to, súng dài, chưa từng về quận, về xã ngủ một đêm, lại to mồm cho rằng “Ấp chiến lược” là vĩ đại, thành công.
Ngay cả những người trẻ hơn, du học ở ngoại quốc về, cũng vậy thôi. Họ học gì ở Tây, ở Mỹ, cái học đó có “thân thiết” gì với nông thôn VN không? Chắc là không!
Ở trong nước, chiến tranh bao nhiêu năm, không có ai viết một vài cuốn sách về “Du Kích Chiến”, ngay cả ông Nhu và cán bộ nòng cốt của ông cũng vậy, cũng như những người lăn lộn nhiều năm trên chiến trường.
Một số người biết tên - chỉ biết tên mà thôi - Lansdale, Sir Robert Thompson, “Du kích Mã Lai”, “Du kích Hukbalahap”, Tổng thống Phi Magsaysay... nhưng tôi không thấy sách hay tài liệu nào nói về cách chống du kích của mấy ông nầy.
Chính quyền Miền Nam thiếu những bài học về chống du kích. Không có những bài học, lớp học, khóa học... chuyên sâu về chống du kích, chống “hạ tầng cơ sở Cộng Sản”, ngoại trừ “Trung Tâm huấn luyện cán bộ xây dựng Nông Thôn”. Sau 1968, Trung tâm này mở thêm các lớp “huấn luyện viên chức xã ấp”.
Cán bộ xây dựng nông thôn và viên chức xã ấp là những người chống Cộng sản từ hạ tầng cơ sở, từ ấp làng, không cho Cộng sản xây dựng hạ tầng cơ sở ở nông thôn, từ đó chúng không thể hoạt động được. Chống Cộng là chống từ hạ tầng cơ sở, từ xóm ấp, không phải ở thủ đô hay thành phố lớn.
Năm 1971 tôi gặp một cán bộ xây dựng nông thôn, tên Phương, khi tôi về ấp Xóm Thủ, Xã Yên Luông, Gò Công. Xóm Thủ là nơi ông Võ Trường Toản từng dạy học ở đây. Tôi về đó là để tìm dấu tích. Còn gì lại đây chăng, của một danh sĩ Đất Phương Nam.
Anh cán bộ xây dựng nông thôn tên Phương nói với tôi rằng việc giết một cán bộ xây dựng nông thôn Cộng Sản thích thú hơn là giết một người lính.
Tôi hỏi tại sao vậy?
Giải thích: Người cán bộ xây dựng nông thôn là người hoạt động chống Cộng từ cơ sở, nghĩa là từ trong nhà của người dân: Từ sửa nhà giúp dân, cuốc đất giúp dân, gánh đất, đào ao giúp dân. Ba cùng: Cùng ăn, cùng ở, cùng làm. Thành ra Cộng sản không bám vào dân được.
Việc xây dựng hạ tầng cơ sở là một công việc, chương trình rất hữu ích. Tuy nhiên, sau khi Ư. Bundy thôi là giữ chức phó đại sứ Mỹ tại Saigon thì chương trình này bị buông lơi, không được hỗ trợ như trước. Giúp đỡ, nâng cao đời sống dân chúng Việt Nam, không phải là mục đích của Tư Bản Mỹ. Mục đích của họ là chiến tranh, là tiêu thụ vũ khí thặng dư từ Thế giới Chiến tranh thứ 2. Thành ra chương trình “Xây dựng Nông thôn” không thích hợp với đường lối của Tư Bản Mỹ, bị loại bỏ là vì vậy.
Bộ “Dân vận Chiêu hồi” chẳng ích lợi mô têgì cả! Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, lâu lâu dân chúng còn dược coi những buổi chiếu phim: Tổng thống Ngô Đình Diệm đi kinh lý chỗ này chỗ kia. Bây giờ thì không. Người dân chẳng thấy mặt viên chức chính quyền bao giờ.
Trong ngành Cảnh Sát có bài học “Bảo vệ Dân chúng” do CIA chủ trương nhưng không đặt trọng tâm vào việc đào tạo cán bộ xã ấp.
Tuy nhiên, chính phủ của chúng tôi, cũng như người đã phạm một sai lầm rất quan trọng. Ấy là vi phạm một điều rất căn bản của xã hội nông thôn VN. Đó là quyền tự trị làng xã. Tiếng Mỹ gọi là “self-governing village”. Tự trị làng xã là “truyền thống” của xã hội VN. Mỗi làng tự bầu người đứng ra quản lý lấy làng mình, từ việc tế tự, an ninh, trật tự, thuế má, sưu dịch, bắt lính...
Nhà vua chỉ cử người của nhà vua đến chức tri phủ, tri huyện, tri châu... mà thôi. Dưới các chức nầy là “chức sắc” của làng như lý trưởng, phó lý, hương chủ, hương quản... Nhiều làng có “Hương ước”, coi như đó là “Hiến pháp” của làng. Cách tổ chức như vầy, ngoài Bắc, trong Nam có khác nhau.
Nhưng tất cả đều là “của làng”. Làng có luật pháp riêng. Luật lệ đó liên hệ chặt chẽ với phong tục, tập quán, lề thói... Nhiều khi luật pháp của vua còn chịu kém thua. Vì vậy, nông thôn VN có câu tục ngữ “Pháp vua thua lệ làng”.’
Dạy học mười năm, nghiệm ra, tôi thấy chương trình giáo dục của VNCH có nhiều cái hay mà thực thế. Ví dụ như thế nầy: Lên cấp trung học (đệ nhất cấp: Cấp 2 bây giờ), trong “Chương trình Cổ văn”, học sinh học những tác phẩm nổi tiếng trong văn học cổ: Truyện Kiều (lớp Đẹ Tứ - lớp 9 bây giờ), Chinh Phụ ngâm, Lục Vân Tiên, Bích Câu kỳ ngộ... Học sinh chỉ học số ít. Lên lớp đệ tam, tức là lớp 10, cấp 3, học sinh lại học lại. Chinh phụ ngâm. Nghĩa là thế nào?
Chương trình giáo dục có chủ trương. Khi học xong cấp 2. Học sinh đã có một trình độ cơ bản về văn học cổ. Đó chỉ là cơ bản. Lên cấp 3, tức là ở là đệ tam, học sinh và học kỹ hơn. Thành ra nếu chỉ học hết cấp 2 thì học sinh cũng có một trình độ, kiến thức về cổ văn.
Lên cấp 3 học sinh phải học kỹ hơn, thành ra phải học lại. Học sinh phải học 2 lần về “Chinh phụ ngâm”. Ở cấp 3, học sinh học những đề tài khó hơn. Trong khi ở cấp 2, học sinh học thuộc lòng một vài trích đoạn. Lên cấp 3, học sinh phải biết tại sao Ôn Như Hầu viết “Chinh phụ ngâm. Bởi vì, nhà vua chỉ cử quan lại tới hàng tri huyện. Trong phạm vi mỗi làng không có quan của nhà vua, không có người của nhà vua. Làng xã Việt Nam có tính cách tự trị.
Trong khi dạy “Chinh Phụ ngâm” cho học sinh. Tôi đã đọc một số sách. Hay nhất là cuốn “Chính Phụ ngâm bị khảo” của Hoàng Xuân Hãn. Nhưng tôi thích nhất là cuốn “Chinh Phụ ngâm” của giáo sư Lê Trí Viễn, in trong “vùng Kháng chiến” Nam, Ngãi Bình Phú bằng lito, rất hạn chế. Lê Trí Viễn cho thấy một điều, là Ôn Như hầu, là người thi hành lệnh vua, ra lệnh cho mỗi làng nộ bao nhiêu dân đinh để đi lính cho nhà vua? Qua đó Ôn Như hầu thấy cảnh bát lính, cảnh chia ly vợ chồng, cha con, giống như trong “Thạch Hào lại” của Đỗ Phủ, mà việc nên “Chinh Phụ ngâm. Cái nhìn của Lê Trí Viễn, dưới nhãn quan “duy vật biện chứng”, hấp dẫn hơn, khi nhìn vấn đề dưới bình diện duy tâm.
Về “Chiến tranh Du kích”, Cộng Sản có sách lược của họ rất tinh vi, khôn khéo. Ở một làng “quốc gia”, có nghĩa là một làng không có Cộng Sản, không ai theo Cộng Sản. Vậy Cộng Sản phải làm gì, bằng cách nào để người dân làng đó ủng hộ Cộng Sản, theo Cộng Sản.
Theo Hiệp Định Genève 1954, Cộng Sản, cán bộ, du kích, bộ đội, thiên Cộng “tập kết” ra Bắc hết. Họ, Cộng Sản, để lại một làng có dân, không có Cộng Sản. Chính quyền Quốc gia đến “tiếp thu”.
Người Mỹ thì chẳng biết gì về lề thói làng xã VN. Còn chính phủ thì vì nhiều lý do khác nhau như chính trị, kinh tế, tôn giáo, đảng phái... nên xâm phạm tính cách tự trị của làng xã đó. Thay vì xây dựng xã hội nông thôn VN, chính quyền miền Nam lại phá vỡ xã hội nông thôn VN. “Âp Chiến Lược” của ông Nhu thất bại, lý do quan trọng nhất, chính là ở chỗ vi phạm đó.
Chiến tranh nhân dân bắt đầu bằng chiến tranh du kích, là chiến tranh của làng xã. Trả nhiệm vụ lại cho làng xã vì làng xã tự trị. Ngày xưa là trả cho chánh tổng, lý trưởng, hương quản... Ngày nay là trả cho xã trưởng, phó xã trưởng an ninh, trưởng ấp, phó trưởng ấp an ninh... Các viên chức xã ấp này hợp cùng với dân chúng, thành nhiều lực lượng, quân sự cũng như tuyên truyền, văn hóa, giáo dục, kinh tế, thương mãi để... bảo vệ an ninh làng xã, chống bọn phá rối trị an, diệt trừ hạ tầng cơ sở Cộng Sản. Vì vậy quyền hạn xã trưởng phải lớn. Ông ta là “tổng thống của xã”, trong tay ông ta phải có lực lượng quân sự, có lực lượng dân sự... nghĩa là, xã trưởng là người chỉ huy Nghĩa quân, Nhân dân Tự vệ, các cán bộ thông tin, y tế, giáo dục... cũng như Cán bộ Xây dựng Nông thôn...
Dân chúng trong làng, xã cần được tổ chức lại, thành đoàn thể: Nam, phụ, lão ấu, công đoàn, hiệp hội, tạo mối liên lạc, quan hệ, công tác... Cũng từ đó có mối giây liên lạc, đoàn kết người trong làng xã với nhau. Công việc, trong “Minh Đạo”, Hồ Hữu Tường gọi là “Văn minh Chính ủy”.
Ai đọc “Con Đường Sáng” của Hoàng Đạo, người cũng thấy nhiều nét tổ chức làng xã như vậy. Vẫn giữ tính truyền thống tự trị, nhưng làng xã phải tiến bộ hơn, về kinh tế, về khoa học kỹ thuật – cơ giới hóa nông nghiệp, và tổ chức xã hội.
Chương trình “Ấp chiến lược” của ông Nhu thất bại, nhưng chế độ Ngô Đình Diệm có những thành công khác: Khu kỹ nghệ Biên Hòa xây dựng được nhiều nhà máy lớn: Nhà máy dệt vải Sicovina, nhà máy giấy Cogido, nhà máy xi măng Hà Tiên. Trước đó Việt Nam đều phải nhập cảng.
Chế độ Ngô Đình Diệm thành công đặc biệt là các dinh điền và khu mật. Thành công thứ nhất là định cư những người Bắc di cư, thứ hai là đời sống công ăn việc cho người dân. Thứ ba vị trí chiến lược trong việc chống Cộng.
Ví dụ 1:
Trong Chiến tranh Việt Pháp (Đông Dương lần thứ nhất), quốc lộ 20 từ Sài Gòn đi Đà Lạt, nói gọn là trong đoạn từ Biên Hòa lên Định Quán, Pháp đại bại vì bị Việt minh đánh nhiều trận. Đây là con đường giao liên của quân Cộng Sản trong cuộc chiến tranh trước. Con đường giao liên đó đi từ Campuchia vào mật khu Dương Minh Châu đến Trị An, vượt qua quốc lộ 20 vào Long Khánh, rồi di chuyển về Võ Đắc/ Võ Xu, vượt Quốc lộ 1, đi về mật khu Mây Tàu ở Bình Tuy. Nói thế là thấy con đường “đi/ về” từ Campuchia ra tới bờ biển. Khi tổng thống Ngô Dình Diệm cho thành lập khu định cư từ Hố Nai lên Dầu Giây, Gia Kiệm là lập một hàng rào chận đứng con đường di chuyển nói trên của quân Cộng Sản. Trong cuộc chiến 1960/ 75 Cộng Sản không đánh được trận nào ra hồn trên khu vực Định Quán là vì tính chiến lược của khu định cư nầy vậy.
Ví dụ 2:
Liên tỉnh lộ 80, từ Vĩnh kim, tên thường gọi là “ngã ba lộ tẻ”, Long Xuyên đi Rạch Giá là khu ruộng rẫy của các ông chủ điền trước 1945. Trong chiến tranh Việt Pháp, khu vực này bị bỏ hoang. Cộng Sản có thể hoạt động tự do, bất kể ngày đêm, nhất là đọan từ xã Mông Thọ tỉnh Kiên giang đến xã Vĩnh Kim tỉnh An Giang, dài 80 cây số.
Khu vực 80 cây số nầy, sau 1954, tổng thống Ngô Đình Diệm cho thành lập dinh điền Cái Sắn. Đây là cái nút chặn, là cái thành trì chận con đường di chuyển của quân Cộng Sản từ Campuchia, đi dọc theo ranh giới của hai tỉnh Long Xuyên và Kiên Giang, rồi đi về tỉnh Chương Thiện.
Ví dụ 3:
Khu trù mật Bắc Đậu ỏ Gia Nghĩa là nút chặn việc di chuyển của Cộng Sản từ Cao Nguyên, khởi đầu từ Ban Mê Thuột, đi xuôi về Miền Đông Nam Bộ.
Tôi từng ở Cái Sắn một thời gian, hơn một năm. Đến đây, cảnh sinh hoạt ở đây làm tôi nhớ lại “Trầm Tư của tên tội tử hình” của Hồ Hữu Tường, tôi đã đọc mười năm trước, khi ông Hồ Hữu Tường mói từ Côn Đảo được tha về. Điều Hồ Hữu Tường nói trong “Minh Đạo” (cuốn sách vừa nói) giống với cảnh sinh hoạt ở đây, làm tôi cho rằng “những tư tưởng lớn thường gặp nhau, như trong tục ngữ Pháp. Tiếc rằng, nước ta chìm đắm trong một cuộc chiến tranh quá dài, phá hoại thì nhiều, xây dựng thì ít. Đúng là đều bất hạnh của dân tộc,
-“Tại sao? Hỏi.
-“Ông nghĩ người Mỹ gây nên “Chiến tranh Đông Dương”, thậm chí đem quân đội tới VN là vì gì?
-“Chống Cộng Sản!” Viên thiếu tá Mã Lai trả lời.
-“Tôi nghĩ khác. Ở trại tỵ nạn Bidong có một thư viện. Cũng có nhiều sách hay. Tôi có đọc một bộ sách 4 cuốn, nói về “Thế giới Chiến tranh” thứ hai. Bộ sách nầy hay lắm, như ông biết. Mãi tới tháng 12/ 1941, Mỹ mới tham chiến. Vì tham chiến trễ, nên mãi tới những năm 1942, 43 Mỹ mới sản xuất nhiều súng đạn cho chiến trường. Bất thần, chiến tranh chấm dứt vào giữa năm 1945, thay vì 1947 như phe Đồng Minh dự trù.
Vậy là vũ khí sản xuất ra rồi, bị thặng dư. Tư bản Mỹ phải tìm cách tiêu thụ số vũ khí thặng dư, khỏi bị lỗ vốn. Không có cách nào hơn là phải gây ra chiến tranh, số vũ khí thặng dư sẽ được tiêu thụ. Đó không phải là nguyên nhân “Chiến tranh Đông dương” hay sao?
Đối với các nước chậm tiến, người Anh, người Pháp có những phương cách cai trị khác. Sau Thế giới Chiến tranh thứ 2 là thời kỳ giải thực: Người Anh lần lượt trả độc lập cho các thuộc địa cũ của họ. Người Pháp trở lại xâm lăng, như ở Việt Nam. Người Mỹ có chính sách “tiến bộ” hơn, về sau này người ta gọi là “Chủ nghĩa Thực dân mới”. Đối với Đông Dương, Mỹ chủ trương chính sách gọi là “ủy trị”, tiếng Anh là “trusteeship” cho các thuộc địa cũ được độc lập, có hiến pháp, có bầu cử, nhưng chính phủ đó phải dựa vào nước Mỹ để tồn tại, nhiều khi bị gọi là chế độ bù nhìn. Tuy nhiên, sau khi tổng thống Roosevelt qua đời, tổng thống Truman không đủ sức cáng đáng công việc, và vì Pháp yêu cầu nên chính phủ Mỹ viện trợ quân sự cho Pháp trở lại Đông Dương. Mặt khác, tạo ra Chiến tranh Đông Dương cũng có nghĩa là để tiêu thụ vũ khí thặng dư Mỹ như đã nói. Vì Thế giới Chiến tranh thứ 2 chấm dứt đột ngột, không phải vào năm 1947 như họ đã dự trù mà lại chấm dứt vào năm 45, sau 2 quả bom nguyên tử thả ở Nhật. Chiến tranh chấm dứt sớm 2 năm. Vì vậy, Mỹ có một số vũ khí thặng dư. Mỹ phải gây ra chiến tranh, vũ khí đó được tiêu thụ, Tư Bản Mỹ khỏi phải lỗ vốn.
Chiến tranh Đông Dương là hậu quả của của Hội nghị Yalta tháng hai 1945. Trong viễn tượng đó, người Mỹ đến Việt Nam để tiêu thụ vũ khí chứ không phải để viện trợ hòa bình hay nhân đạo cho dân tộc Việt Nam. Chương trình “Xây dựng nông thôn” là không đem cơm gạo, nhà ở cho nông dân Việt Nam mà chỉ đem súng đạn tới.
Cũng vì vậy “Chương trình Xây dựng Nông thôn” không được hỗ trợ mạnh mẽ và chấm dứt sớm vì công cuộc này đi ngược với mục đích của Tư bản Mỹ. Đó là niềm bất hạnh của dân tộc Việt Nam.
Viên thiếu tá ngồi trầm ngâm. Có phải người dân các nước nhược tiểu thông cảm thân phận lẫn nhau !!!
Diện tích được canh tác ở VN không lớn, tám, chín mươi phần trăm dân chúng là nông dân. Không nắm được nông dân thì không thắng được Cộng Sản. Nếu miền Nam VN không sụp đổ vào tháng Tư/ 1975 thì sự thất bại đó sẽ diễn ra vào mười năm sau: 1985, hay 1995 mà thôi. Không tránh được!
Chính quyền miền không quan tâm nhiều đến việc chống Cộng về mặt văn hóa. Đây là chỗ yếu và mặc cảm - tự tôn hay tự ti - của ông Nhu.
Kiến thức của ông Nhu nghiêng về mặt văn hóa nhiều hơn văn học. Tôi chưa từng đọc một cuốn sách hay bài báo nào của ông Nhu viết về văn học, nhất là về văn học VN. Trong cuốn “Chủ nghĩa Nhân Vị” của giáo sư Lê Hữu Mục, tôi không thấy một chương/ mục nào ông Mục viết về lãnh vực nầy của ông Nhu, dù ông Mục là giáo sư Văn Chương Việt Nam.
Một là vì cái “sở học” của ông Nhu không “dính líu” gì tới Văn học VN.
Hai là tính tự cao, “mục hạ vô nhân” của tất cả anh em nhà họ Ngô.
Ngoài số người anh em của họ với nhau, tôi không rõ ông Ngô Đình Nhu có tôn trọng người VN nào không, dù là người trí thức.
Các ông trí thức, dù có cộng tác với ông hay không, tất cả tướng lãnh, dù hai sao hay ba bốn sao, đều bị ông gọi về “tham gia khóa học Nhân Vị Suối Lồ Ồ” để ông “lên lớp”. Ông dạy họ về “Chủa nghĩa Nhân vị”, về “Cần Lao”... Ai ai cũng là “học trò” của ông Nhu hết. Chào từ giã ông Nhu, người nào cũng “đi thụt lùi”, không dám “quay lưng lại” trước mặt ông, làm cho ông Nhu nghĩ gì về các trí thức và tướng lãnh miền Nam? !
Trên lãnh vực văn học, tôi không rõ ông Nhu tôn trọng những người nổi tiếng trước 1945 như Nhất Linh, Hoàng Đạo, Hồ Hữu Tường, Hồ Biểu Chánh, hay ông Nhu “cho vô tù” tuốt.
Nghe tin Nhất Linh tự tử, ông Diệm nói sao mà phải làm thế, ra tòa rồi cũng tha cả thôi. Nói như vậy, có nghĩa là ông Diệm cho rằng ông Nhất Linh sợ tù hay sợ chết. Sao ông Diệm đánh giá Nhất Linh đến thấp đến như vậy. Nhất Linh có gan tự tử, không sợ chết thì sao lại có thể sợ ở tù. Dưới con mắt của ông Diệm, Nhất Linh chỉ là một người tầm thường, một người sợ chết như bao nhiêu người khác, trong khi Nhất Linh là một người làm cách mạng, cách mạng văn học khi ông đứng ra làm báo và thành lập Tự Lực Văn Đoàn và ông cũng là người làm cách mạng chính trị khi ông thành lập đảng của ông và tham gia “Việt Nam Quốc Dân Đảng” cùng với các em và đồng chí của ông.
Vì vậy, trên lãnh vực văn học, ông Nhu không có quan điểm nào về “Văn Học Chống Cộng”.
Trong số những người theo Việt Minh, trong công cuộc kháng chiến chống Pháp, hình như không có một người cầm bút nào “bị” gọi là “Nhà văn Vô sản”, kể cả Tô Hoài, Nam Cao, Ngô Tất Tố... Có thể gọi họ là những nhà văn xã hội, thiên tả, hay nói đúng hơn là họ “đứng về phía những người nghèo khổ”. Nhà văn Vũ Ngọc Phan, Trương Tửu thì lại là những người Đệ Tứ, không phải Đệ Tam.
Hơn ai hết, Hồ Chí Minh, Trường Chinh sai Tố Hữu giăng ra một “cái bẫy”, để “nắm cổ” những nhà văn theo Việt Minh mà không theo Cộng Sản. Cái bẫy đó chính là, nói theo ông Mạc Đình là “Phong trào Nhân văn, Giai phẩm”.
Một số đông, rất đông, như Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Trần Dần, Phùng Quán... “vô tù gặp nhau”.
Đối với công việc chống Cộng, về văn học, tại sao chính phủ Miền Nam không nắm ngay cơ hội nầy để mở ra một phong trào “Văn học chống Văn học”, nói trắng ra là “Văn học Tư sản (tiểu tư sản, dân tộc...) chống “Văn học Vô sản”.
Trong viễn tượng đó, ngoài việc “sửa đổi chương trình Việt Văn lớp Đệ Nhị” ngày 8 tháng 12 năm 1958, Bộ Giáo Dục hồi ấy đưa vào chương trình học các tác giả trong “Tự Lực Văn Đoàn”. Còn ngoài ra, học sinh chẳng học gì về Phan Khôi, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Trần Dần, Hữu Loan, Phùng Quán... cả, trong khi những tác phẩm của họ, là những tác phẩm chống Cộng sâu sắc, cần đưa vào chương trình giáo dục.
Theo tôi biết, chỉ có một lần, ông Nguyễn Khắc Thiệu, dạy Việt Văn ở trường Bồ Đề Huế, có đọc hai câu thơ của Trần Dần tại lớp cho học sinh của ông ta nghe:
Tôi bước đi không thấy phố,
Không thấy nhà,
Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ
Nhưng ông Thiệu không giải thích gì thêm.
Tôi cũng không thấy có một tài liệu giáo dục nào nói về bài thơ “Lời mẹ dặn” hoặc “Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe”.
Những câu thơ như:
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu.
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt
được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.
Và
...
Đã đi với nhân dân
Thì thơ không thể khác
Dân máu lệ khốn cùng
Thơ chết áo đắp mặt!
Không kể về mặt chống Cộng, đây là những tác phẩm hay nhất và nhân bản nhất trong Văn học Việt Nam, mà, đối với các lãnh tụ Cộng Sản VN hay quốc tế, mắt bị mờ vì Chủ nghĩa Cộng Sản, họ không thể thấy được dân tộc.
Ngay cả ông Ngô Đình Nhu, với “cặp kính màu” của Emmanuel Mounier và Jacques Maritain, có xu hướng triết học đạo Thiên Chúa La Mã, ông Nhu cũng không thấy luôn.
“Bụt nhà không thiêng” là vậy.
Đó là cái gì?
Trước khi ông Diệm về VN cầm quyền, dân chúng biết ông Ngô Đình Diệm thì nhiều chớ mấy ai biết ông Nhu là ai. Năm 1954, ông Diệm về nước, dân chúng kéo nhau đi đón, “hoan hô Thủ tướng Ngô Đình Diệm” đông vô cùng, nhất là ở Huế, các tỉnh miền Trung. Nếu là “ông Nhu về” - lúc ấy ông Nhu đang ở Saigon - thì mấy ai đi đón ông ta! Nhờ thế lực ông Diệm, đời ông Nhu mới “lên”. Và rồi, từ chỗ đứng đó, ông Nhu dựng lên ở miền Nam một chế độ “độc tài”.
Những người, các đoàn thể, các đảng phái, các tôn giáo từng “hoan hô Ngô Thủ tướng”, “Ngô Thủ tướng muôn năm” đều bị ông Nhu “triệt tiêu” cả: Giáo sư Nguyễn Bảo Toàn, Nguyễn Phan Châu, Nhị Lang, Hồ Hán Sơn, Trần Văn Ân, Nguyễn Long, Vũ Tam Anh… và 18 vị của “Nhóm Caravelle”.
Sau “Thế giới Chiến tranh lần thứ hai”, các nước Tây phương, nhất là Mỹ, có nhiều hành động có khuynh hướng tiến bộ: Phong trào “giải thực là một”, “khuynh hướng độc lập” của các nước mới giành lại được chính quyền, “khuynh hướng tự do, trung lập” của các nước nầy... Vậy mà ông Ngô Đình Nhu với Cộng Sản, nói chung, - kể cả Cộng Sản VN - lại “song hành”.
Ở miền Bắc thì Cộng Sản “độc tài đảng trị”. Ở miền Nam, dưới “Ngô triều”, có khác chi:
Một là:
Suy tôn lãnh tụ:
Suy tôn Stalin, suy tôn “Mao Chủ tịch”, “suy tôn Hồ Chủ tịch” và “Suy tôn Ngô Tổng thống”.
Suy tôn Ngô tổng thống là “sản phẩm” của ông Trần Chánh Thành. Ông Trần Chánh Thành đậu cử nhân luật, nguyên là tri huyện thời thực dân Pháp cai trị nước ta, một thời theo kháng chiến, hoạt động ở vùng Thanh Hóa, sau bỏ về theo ông Diệm và ông ta thực hiện cái trò “suy tôn Ngô tổng thống” giống như trò Cộng Sản suy tôn ông Hồ Chí Minh. Việc này chỉ là việc ông Trần Chánh Thành “cóp” của Việt Cộng mà thôi. Ngoài Bắc thì “suy tôn bác Hồ”, trong Nam thì “suy tôn cụ Ngô”. Nước VN sao mà lắm trò suy tôn lãnh tụ thế!!!
Hai là:
Độc tài đảng trị: Chỉ có một đảng Cần Lao cai trị. Bắc Việt chỉ có một đảng cai trị. (đảng Cộng Sản). Ai là đối lập với Cộng Sản thì bị giết cả. “Kẻ nào không theo ta là kẻ thù của ta.” Lê Duẫn nói vậy.
Vậy những ai chống lại Diệm Nhu không bị giết thì cũng bị tù tội cả hay sao?! Việc nầy, trong “Trầm tư của người tội tử hình”, ông Hồ Hữu Tường nói rõ lắm, vì ông Tường là nạn nhân của Diệm Nhu.
Thật vậy, người ta nghĩ sao về cái chết của giáo sư Nguyễn Bảo Toàn, Nguyễn Phan Châu, Trình Minh Thế... những người từng ủng hộ, đấu tranh, bênh vực cho ông Diệm từ nhưng ngày đầu, khi ông Diệm chưa rời khỏi máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhất để làm thủ tướng. Hà Thúc Ký, Trần Văn Lý, Trần Văn Văn...và ai nữa đã bị tù đày, đàn áp, tra khảo và bị xử tử, bị lưu vong, như Phạm Công Tắc... sau khi ông Diệm đã vững cái ghế ngồi, khi ông là lãnh tụ quốc gia, mặc dù những người vừa nói trên cũng đã từng “Hoan hô Ngô Thủ Tướng”.
So ra, ông Ngô Đình Nhu với Lê Duẫn có khác gì nhau khi họ tiêu diệt những “Kẻ nào không theo ta...”
Trong lãnh vực nầy, ông Nhu “thủ đoạn” hơn Lê Duẫn một bực. Ông Nhu biết “thế lực Mỹ” của những ai theo hay không theo ông ta. Động lực chính thúc đẩy tướng Trình Minh Thế về “hợp tác” với ông Diệm là từ Lansdale, người đã dựng nên cái chức tổng thống cho ông Diệm. Muốn giữ vững cái ghế tổng thống đó cho ông Diệm, phải loại trừ ngay những ai có “thế lực” ngồi lên cái ghế đó thay ông Diệm. Có phải đó là cái mối nghi ngờ rằng tướng Thế không phải bị giết ở cầu Tân Thuận.
Ba là:
Chế độ bù nhìn, bánh vẽ: Quốc hội bù nhìn, Tư pháp bù nhìn, Hiến pháp bù nhìn, đối lập bù nhìn.
Bốn là:
Bầu cử gian lận: bầu cử quốc hội, bầu cử hội đồng...
Năm là:
Tôn giáo trị. Bấy giờ có dư luận nói rằng: “Ông Nhu nói “chỉ có người theo đạo Thiên Chúa mới chống Cộng”. Vậy những người không theo đạo Thiên Chúa không chống Cộng hay sao?
Ông Nhu tổ chức “Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia”, “Tập Đoàn Công Dân” để làm cái “vòng ngoài” cho đảng Cần Lao. Xem ra, cái vòng ngoài giống y chang cái gọi là “Mặt Trận Tổ Quốc” của Cộng Sản Bắc Việt. Muốn ứng cử một chức vụ gì, như muốn ra ứng cử làm “Dân biểu Quốc hội”, nếu không vượt qua được cái vòng rào đầu tiên, phía ngoài của “đảng Cần Lao” thì đừng hòng có tên trong anh sách ứng cử. Sao mà nó giống cái “Giấy giới thiệu” của Mặt Trận Tổ Quốc quá vậy!?
Nhìn chung, cách cai trị miền Nam của anh em Diệm Nhu là rập khuôn cách cai trị của Cộng Sản ở miền Bắc, chớ có Tự Do/ Dân Chủ gì đâu! Ai ai cũng biết Bắc Việt thuộc phe Cộng Sản nên người dân miền Bắc phải sống dưới chế độ độc tài đảng trị. Như thế thì chế độ miền Bắc gọi là “Độc Lập - Tự Do – Hạnh Phúc” thế chó nào được. Ai không biết “ba chữ” nói trên là ba cái “bánh vẽ” của “bác” Hồ.
Còn như miền Nam, được coi là thuộc về cái gọi là “Thế Giới Tự Do” thế chó nào được. Cũng là “bánh vẽ” cả thôi. Câu nói của Kissinger vào trước ngày 30 tháng Tư / 75 không chứng minh được vai trò “tiền đồn” của VNCH hay sao. Thân phận nhược tiểu đấy quí vị.
“Why don’t these people die fast? The worst thing that could happen would be for them to linger on” (“Tại sao những người này không chết nhanh đi? Điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là họ cứ kéo dài lê thê như vậy.”)
(Câu nói của Kissinger đã khiến nhiều người Việt hận thù ông ta. Họ nghĩ rằng ông đã rủa đồng bào miền Nam Việt Nam khi Sàigon đang trong cơn hấp hối vào tháng Tư/ 1975. Trích tại trang 641, “ The Fall of Viet Nam”, trong “Kissinger, a Biography”.
Bánh vẽ đó chỉ để cho thằng Cuội đem lên cung trăng cho chị Hằng ăn mà thôi.
Nói về ông Ngô Đình Nhu “độc tài”, nhìn chung, tôi nhớ một câu chuyện sau đây. Bấy giờ, năm 1957, cái ghế tổng thống của ông Diệm đã bắt vít vững chắc rồi. Bữa cơm chiều hôm đó có ông chú tôi, anh em chúng tôi - Tuệ và Ủy – Tôi hỏi ông chú tôi về việc “ông Võ Như Nguyện xin thôi chức Dân biểu Quốc hội”, đơn vị Bình Định. Ông Nguyện là bạn rất thân với ông chú tôi trong cái mà người Huế, trước 1954, gọi là “đảng Cụ Ngô”. Ông chú tôi nói, đại ý, “Học cho giỏi mà chẳng biết “thế nước lòng dân” là cái chi cả”. “Thế nước lòng dân” là một cuốn sách do ông Võ Như Nguyện viết, trình lên cho tổng thống Diệm.
Sau năm 1969, khi ông Hồ Chí Minh “đi thăm cụ Các Mác, cụ Lênin” rồi, (mấy chữ trong ngoặc kép là tôi chép lại trong “di chúc Hồ Chí Minh” đấy, ở Saigon, “nhà văn” Nguyễn Hữu Ngư (tức Nguyễn Ngu Ý), thực hiện một cuộc phỏng vấn các học giả, trí thức, nhà văn... ở Saigon, hỏi họ nghĩ như thế nào về ông Hồ Chí Minh.
Theo dõi cuộc phỏng vấn nầy, tôi cho rằng câu trả lời của nhà văn Võ Phiến là hay nhứt. Ông Võ Phiến nói, đại ý“nếu ông Hồ không phải là một người Cộng Sản, muốn độc quyền cai trị nước ta, mà là một người yêu nước chân chính, đoàn kết với các đảng phái Quốc Gia, xây dựng nên một nước Việt Nam Tự Do và Bình đẳng, thì VN ngày nay (1969), đã là một nước phát triển, giàu mạnh, không thua gì Nhật Bản.
Điều ông Võ Phiến thấy, ông Ngô Đình Nhu không thấy.
Ông Nhu đi theo con đường Hồ Chí Minh đã đi: tiêu diệt tất cả “Kẻ nào không theo ta...” mà dựng nên một nước gọi là “Việt Nam Cộng Hòa” không khác chi nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” để “dìm” dân tộc Việt vào vòng nô lệ, độc tài, đầy những máu xương mấy chục năm qua.
Dù có được gọi là “chiến đấu cho Thế Giới Tự Do”, dân tộc VN, dù ở phía Bắc hay phía Nam, chưa từng được hưởng một giây phút nào, một ngày nào cái gọi là Tự Do, Độc Lập, Hạnh Phúc, Bình Đẳng.
Viên thiếu tá tình báo Mã Lai hỏi:
-“Quân đội miền Nam của ông chiến đấu không giỏi như quân đội Bắc Việt Nam, có phải thế không?
-“Tôi không nghĩ thế! Quân đội miền Bắc hay Quân đội miền Nam đều là người Việt Nam cả. Theo lịch sử, người Việt Nam chiến đấu rất anh dũng. Nếu không, làm sao họ có thể thắng quân Mông Cổ, thắng quân Thanh, có thể đứng lên giành lại chủ quyền sau một ngàn năm Bắc thuộc. Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ 2, - nghĩa là cuộc chiến từ 1960 đến 1975 -, quân đội Cộng Sản đã tấn công Quân đội Việt Nam Cộng Hòa rất nhiều nơi, rất nhiều lần, với đại pháo, xe tăng, với hàng chục sư đoàn. Nhưng miền Nam vẫn đứng vững. Năm 1975, khi chúng tôi có súng mà không có đạn, cây súng ấy còn thua cây gậy. Với lại...
-“Ông muốn nói gì? Viên thiếu tá Mã Lai hỏi.
Tôi nói: “Nhân quả. Nhân quả. Các siêu cường tạo ra cái nhân, người VN chúng tôi, toàn thể, ngươi miền Bắc cũng như người miền Nam, nhận cái quả.
-“Tôi muốn ông nói rõ hơn. Viên thiếu tá lại yêu cầu.
-Dễ thôi. Quyền lợi là của họ, các nước lớn. Chiến tranh là cái quả, các nước nhỏ gánh chịu, như VN, như Triều Tiên... Cả Mã Lai, cũng như người VN chúng tôi thường nói: “Thân phận nhược tiểu.
Mặt khác, trong phạm vi nội bộ, vấn đề không hẳn là dân tộc, mà chính là ở chính quyền. Yếu không phải tại người dân miền Nam yếu, mà tại chính quyền miền Nam.
Nói về một con người, một người như ông Ngô Đình Nhu mà không nói về lịch sử thời đại ông ta, cũng như những người thuộc thế hệ ông, có thể là không đủ. Bấy giờ “Phong trào Dông du” và “Phong trào Duy Tân” - Vua Thành Thái đặt niên hiệu cho con mình, -Vĩnh San -, là Duy Tân. Duy Tân là theo mới, như phong trào Duy Tân thời bấy giờ. “Đày vua không Khả” là câu chuyện xảy ra năm 1907. Vua Thành Thái bị phế thì ông Ngô Đình Khả bị mất chức, giáng 3 trật, đuổi về.
Năm 1910 là năm sinh của ông Ngô Đình Nhu. Bấy giờ Nho học đã lùi vào bóng tối, mà lùi xa lắm, như Trần Tế Xương thì “Cái học nhà Nho đã hỏng rồi, Mười người theo học chín người thôi”. Cho nên ông Ngô Đình Nhu học “Tây học” nhiều hơn “Nho học”.
Năm 1916 các khoa thi chữ Nho đều không còn nữa, chỉ còn thấy bằng cấp của Tây mà thôi. Học xong trung học ở Việt Nam, ông Nhu du học bên Pháp, ở một trường “khảo cổ”, cái “cổ” của Tây chứ không phải cái “cổ” Tứ Thư Ngũ Kinh.
Cái “Tây học” tạo nên một thế hệ theo Tây, làm việc cho Tây như thầy thông, thầy phán, v.v.. Một số theo Tây học, bị ảnh hưởng tư tưởng Tự Do Bình Đẳng của Pháp, trở thành những người chống Pháp, như nhóm Đệ Tứ chẳng hạn. Có những người dù có học, học cao, nhưng chưa từng ra khỏi nước thì chỉ lẩn quẩn với những tư tưởng chống Pháp, nhưng quan điểm không được mở rộng. Đó là những cán bộ “Cộng Sản local”, nghĩa là những người Cộng Sản chưa từng ra khỏi Việt Nam như Lê Duẩn, như Trường Chinh, như Phạm Văn Đồng.
Những tay Cộng Sản có du học, có ra nước ngoài thì lại có tư tưởng tiến bộ, như đám Đệ Tư Quốc Tế: Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường,v.v...
Ông Ngô Đình Nhu đúng là mẫu người Tây muốn đào tạo ra để phục vụ cho Tây: Có Tây học, có đạo Thiên Chúa.
Tuy nhiên, trường hợp ông Ngô Đình Nhu khác vì ông Nhu sinh trưởng trong một cái gia đình chống Pháp, từ đời ông Ngô Đình Khả, tới ông Ngô Đình Diệm. Tiếc một điều, về mặt tư tưởng, ông Nhu bị hạn chế, không phóng khoáng như các ông Trương Tử Anh, Lý Đông A, Nguyễn Tường Tam, và nhóm Đệ Tứ Quốc Tế.
Người kia, một người học lớp Ba trường Pháp Nam, - phía ngoài cửa Đông Ba/ Huế, rồi lưu lực vào Nam, rồi đi qua Tây. Chẳng học hành gì nhiều ở Pháp rồi trốn qua Liên Xô, theo Cộng Sản. Những gì ông Hồ Chí Minh học được là từ Chủ nghĩa Marx, là từ chế độ Cộng Sản của Lê-nin, từ Stalin, nhất là Stalin.
Nếu học từ Stalin, ông Hồ Chí Minh học cái gì?
Sự tàn ác, thủ đọan, vô đạo đức. Hồ Chí Minh học những điều hận thù, tàn ác, - là bản chất từ Liên Xô, từ Mao, rồi đem về áp dụng ở VN.
Cái tệ hại của Cộng Sản, ngay chính người Cộng Sản cũng xác nhận. Trong đại hội đảng CS Liên Xô lần thứ hai mươi năm 1956, bài diễn văn của Khrushchev cũng xác nhận tính vô luân của Cộng Sản Liên Xô, thời Stalin.
Mọi người đều biết Lenin không khoan nhượng như thế nào với các đối thủ tư tưởng của chủ nghĩa Marx, những người đi chệch khỏi đường lối đúng đắn của Đảng.
Ông vứt bỏ phương pháp thuyết phục và giáo dục của Lenin, chuyển từ lập trường đấu tranh tư tưởng sang con đường đàn áp hành chính, đàn áp quần chúng, khủng bố. Ông hành động ngày càng mở rộng hơn và quyết liệt hơn thông qua các cơ quan trừng phạt, thường vi phạm mọi chuẩn mực đạo đức hiện hành và luật pháp Xô viết.
Stalin cho rằng càng gần đến chủ nghĩa xã hội, càng có nhiều kẻ thù hơn, sử dụng nghị quyết của Hội nghị Toàn thể Trung ương tháng Hai-tháng Ba theo báo cáo của Yezhov, những kẻ khiêu khích len lỏi vào các cơ quan an ninh nhà nước, cùng với những kẻ cơ hội vô lươ
Các cuộc đàn áp hàng loạt đã ảnh hưởng tiêu cực đến tình trạng đạo đức-chính trị của Đảng, gây ra sự bất an, thúc đẩy sự nghi ngờ bệnh hoạn, gieo rắc sự thiếu tin tưởng lẫn nhau giữa các đảng viên cộng sản. Các loại vu khống và cơ hội chủ nghĩa tích cực phát triển.
Anh em nhà Ngô được người ta gọi là “mục hạ vô nhân”. Một là vì tính cách dòng dõi của họ. Thứ 2 là về khoa bảng.
Tuy nhiên, học vị của ông Ngô Đình Thục không được người ta coi trọng lắm, bởi vì đó chỉ là bằng cấp trong giới tôn giáo, bằng “thần học”. Ông Ngô Đình Diệm học cũng không cao, chỉ là “xuất thân trường hậu bổ”, một trường hành chánh để làm quan. Ông Ngô Đình Luyện là “kỹ sư cầu cống”. Ông Cẩn thì chẳng học hành gì. Thành ra cái bằng của ông Ngô Đình Nhu là cao nhất, và ông ta cũng là người “mục hạ vô nhân” bậc nhất trong số anh em ông Ngô Đình Diệm.
Ông Ngô Đình Nhu không dung hòa được hai nền văn hóa Đông/ Tây và ông cũng không được soi sáng về tính cách Dân chủ, Tự do, Bình đẳng trong hiến pháp Mỹ, cũng như tư tưởng tiến bộ của xã hội Âu Tây, của Pháp, của Paris... Vì vậy, Ngô Đình Nhu không xây dựng ở miền nam một nước dân chủ tự do mộ mà là một chế độ độc tài.
Về văn hóa phương đông, ông Nhu cũng thua Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh bởi vì khi Mao có quyền, các con cũng như thân nhân của ông chẳng gì cả. Ông Hồ Chí Minh chỉ một thân một mình, bà con chẳng ai nhờ gì ông Hồ. Ông Nguyễn Sinh Đạt, anh Hồ Chí Minh chỉ gặp ông Hồ một lần sau năm 1945 rồi thôi, không bao giờ anh em gặp nhau nữa. Thân nhân của ông Hồ Chí Minh ở làng Kim Liên cũng chẳng ai được gì. Trong khi đó cái tính cách “một người làm quan cả họ được nhờ” rất rõ nét trong gia đình ông Ngô Đình Diệm.
Ông Ngô Đình Diệm không làm tổng thống một mình. Chính ông Ngô Đình Diệm từng nói “chỉ có một tổng thống thôi” chứ không phải ai cũng là tổng thống cả: Tổng thống Ngô Đình Thục, tổng thống Ngô Đình Nhu, tổng thống Trần Lệ Xuân, tổng thống Ngô Đình Cẩn. Lọan từ trong nhà loạn ra, thế thì nước yên làm sao được, nước không đại loạn làm sao được?
Ông Ngô Đình Nhu cũng như ông anh em ông có mặc cảm về nguồn gốc của cha ông mình.
Ông Ngô Đình Niệm (còn gọi là Ngô Đình Dinh) là ông nội của ông Nhu là một người dân “thủy cư”, làm nghề đánh cá và đưa đò trên sông Nhật Lệ. Về sau, khi ông Ngô Đình Khả làm quan, có tiền, giúp đỡ cha mẹ, rời cuộc sống ở trên sông nước, định cư trên đất liền tại làng Đại Phong. Đại Phong là chỗ vạn đò của gia đình ông Ngô Đình Niệm neo tại đó, chớ đâu có phải là làng gốc của anh em nhà họ Ngô.
Họ bỏ cái vạn đò “thủy cư”, sợ xấu hổ gì chăng? Thế ông Mạc Đăng Dung thì sao? Sử còn chép: “Ông Mạc Đăng Dung làm nghề đánh cá ở đất Hải Dương” Ông Mặc Đăng Dung không giấu được nghề đánh cá hay là ông không muốn giấu? Trong khi anh em nhà Ngô mang cái mặc cảm, vừa tự ti vừa tự tôn, mà chối bỏ “nghề đánh cá, đưa đò” của cha ông ngày trước
Trong viễn tượng đó chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà anh em ông Diệm dựng nên là một chế độ nặng bóng đen thần quyền như các nước Châu Âu, hồi thế kỷ 18, 19. Chính những cái bóng đen đó đã góp tay vào việc làm sụp đổ cả hai chế độ Đệ Nhứt và Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa.
Tôi bỏ gần một tháng để viết về Ngô Đình Nhu. Ông Nhu là một nhân vật đặc biệt, không dễ nhận xét về ông. Tuy nhiên, tôi không căn cứ trên tài liệu báo chí, sách vở mà viết về ông Nhu cũng như anh cũng như anh em nhà họ Ngô. Tôi căn cứ trên dư luận Huế, dư luận thì “đáng trọng mà cũng đáng khinh”. Tôi tìm cái đáng trọng để viết về anh em Ngô Đình Diệm không phải để làm một tài liệu lịch sử. Chuyện đó không phải của tôi, nhưng theo tôi nghĩ người Huế có kinh nghiệm nhiều về anh em nhà họ Ngô.
“Xấu che, tốt khoe”, khi trả lời phỏng vấn của viên thiếu tá tình báo Mã Lai, tôi chỉ nói những gì cần nói, cái tốt của mình và của chế độ tôi phục vụ. Tôi giấu bớt cái xấu, cái tệ. Bây giờ, viết lại, tôi viết hết, mắc gì tôi phải giấu.
Không nơi nào đón “Ngô thủ tướng” đông đảo và nồng nhiệt như Huế. Cũng không nơi nào “đá đảo Ngô Đình Diệm” mãnh liệt, triệt để, tích cực như ở Huế. Tuy nhiên, khi dân Huế “hoan hô” không có cái bóng ông Nhu phía sau ông Diệm. Ngược lại, khi họ “đá đảo”, người ta thấy rất rõ cái bóng “ông bà Nhu” sau lưng ông Diệm. Có oan cho ông Diệm không, vì có người nói anh em ông Diệm đã giết ông.
Vậy thì rõ ai giết ông Diệm? Trách ai làm chi!
Sau cái chết của người chồng và ông anh chồng, trong cuộc đời lưu vong của bà Nhu, có giây phút nào bà ấy có nghĩ lại mà ân hận hay không. Không nghe ai nói gì chuyện ấy cả.
Đó là điều đáng buồn. Suốt cuộc đời, không ai thấy mình có làm gì sai hay sao ???!!!
hoànglonghải
_______________________________________
Phụ lục:
Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe
Ngoài trời trăng như tuyết
Trắng lạnh đến thấu xương
Trong nhà vách trống toang
Gió ra vào thoả thích...
Hồ khuya sương tĩnh mịch
Trộn nước lẫn cùng trời
Con dế chân bờ dậu
Nỉ non hoài không thôi...
Tựa lưng ghế cành ổi
Vai khoác áo bông sờn
Tôi ngồi đọc Đỗ Phủ
Vợ vừa nghe vừa đan...
Đỗ Phủ tự Tử Mỹ
Thường xưng già Thiếu Lăng
Sinh ở miền đất Củng
Cách ta hơn ngàn năm
Thơ viết chừng vạn trang
Chín nghìn trang thất lạc
Người đời sau thu nhặt
Còn được hơn ngàn bài
Chỉ hơn ngàn bài thôi
Nỗi đau đã Thái Sơn
Nếu còn đủ vạn trang
Trái đất này e chật!...
Thơ ai như thơ ông
Lặng im mà gầm thét
Trang trang đều xé lòng
Câu câu đều đẫm huyết...
Thơ ai như thơ ông
Mỗi chữ đều như róc
Từ xương thịt cuộc đời
Từ bi thương phẫn uất
Thơ ai như thơ ông
Kể chuyện mái nhà tốc
Vác củi làm chuồng gà...
Đọc lên trào nước mắt!
Giữa tuyết trong đò con
Đỗ Phủ nằm chết đói
Đắp mặt áo bông sờn
Kéo hoài không kín gối.
Ngàn năm nay sông Tương
Sóng còn nức nở mãi
Khóc chuyện áo bông sờn
Đắp mặt thơ chết đói!...
Giật mình trên tay vợ
Bỗng nẩy một hạt sương
Hạt nửa rồi hạt nửa
Tôi nghẹn dừng giữa trang.
Kéo áo bông che vai
Ngồi lặng nghe sương rơi
Con dế chân bờ dậu
Nỉ non hoài không thôi!...
Vụng về...tôi dỗ vợ:
Em ơi đừng buồn nữa
Qua rồi chuyện ngàn năm
Bao nhiêu nước sông Tương...
Miệng nói nhưng lòng nghĩ:
Ôi thân phận nhà thơ
Khác nào thép không rỉ
Ngàn năm cũng thế thôi!...
Đã đi với nhân dân
Thì thơ không thể khác
Dân máu lệ khốn cùng
Thơ chết áo đắp mặt!
Em ơi, nếu Đỗ Phủ
Vai khoác áo lông cừu
Bụng no đến muốn mửa
Viết sao nổi câu thơ
Ngàn năm cháy như lửa:
Cửa son rượu thịt ôi
Ngoài đường xương chết buốt
Em ơi, nếu Tử Mỹ
Nhà ở rộng mười gian
Rào sắt với cổng son
Thềm cao đá hoa lát
Chắc ông không thể làm
Mưa thu mái nhà tốc
Em ơi, nếu Thiếu Lăng
Cặp kè vợ béo nứt
Một bước là ngựa xe
Đứng đi quân hầu chật
Đời nào ông lắng nghe
Tiếng gào và tiếng nấc
Bà cụ xóm Thạch Hào
Gái quê tân hôn biệt...
Đã đi với nhân dân
Thì thơ không thể khác
Dân máu lệ khốn cùng
Thơ chết áo đắp mặt!
Chính vì thế em ơi
Nhân loại ngàn năm qua
Máu chảy như sông xiết
Cũng là để cho Thơ
Sẽ không còn phải viết
Những Hành qua Bành Nha
Vô gia Thuỳ Lão biệt...
Cũng là để cho Thơ
Sẽ không còn phải chết
Giữa tuyết, trong đò con...
Đắp mặt áo bông sờn.
Đừng buồn nữa em ơi
Chuyện ngàn năm...ngàn năm.