Trần Thị Nguyệt Mai

Tháng 5/2026 vừa qua, nhà văn Vũ Thất đã hoàn thành cuốn 3 cũng là cuốn cuối cùng trong bộ truyện Đời Thủy Thủ của ông. Nếu kể từ cuốn đầu tiên, phát hành vào năm 1969, cho đến khi cuốn này hoàn thành, ông đã trải qua 57 năm ròng rã. Giữa khoảng thời gian đó, là những chuyến hải hành, giữ gìn biển đảo miền Nam cho đến thời điểm cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa vào tháng 4/1975. Tiếp đó là 9 năm “lao động vinh quang” trong những trại tù với mỹ danh “học tập cải tạo” từ Bắc chí Nam cho đến khi được phóng thích. Nhờ chuyến hải hành cuối cùng bằng ghe tắc ráng, ông đã đến trại tỵ nạn Pulau Bidong ở Mã Lai vào cuối năm 1984. Sau hơn 6 tháng, ông được đoàn tụ bên vợ và hai con tại Hoa Kỳ năm 1985. Tiếp nối là những ngày “làm lại cuộc đời”: đi học, đi làm không ngơi nghỉ để lo cho cuộc sống gia đình. Đến lúc nghỉ hưu, ông mới có dịp quay về với niềm vui chữ nghĩa để viết tiếp Đời Thủy Thủ 2 – tháng 3/2023 và hoàn tất Đời Thủy Thủ 3 vào tháng 5/2026.
Nhà phê bình văn học Liễu Trương đưa ra một hình ảnh rất đẹp: Bộ trường thiên tiểu thuyết của Vũ Thất làm liên tưởng đến một ngọn pháo bông: với Đời Thủy Thủ 1 và Đời Thủy Thủ 2 pháo bông được châm ngòi, với Đời Thủy Thủ 3 ngọn pháo bông tung lên trời, nở ra thành muôn nghìn bông pháo rực rỡ.
Nhà văn / Hạm trưởng Trần Quang Thiệu cũng là người bạn đồng môn cùng khóa Đệ nhất Bảo Bình (8/1961 – 3/1963) với ông nhận xét rất chí lý: “Vũ Thất đã kết hợp nhuần nhuyễn kỹ thuật hải quân, nghệ thuật hải chiến, lịch sử, tâm lý, tạo một bối cảnh mượt mà như bình minh trên đại dương”.
Trong bộ sách này, người đọc được đắm mình trong khung cảnh trời biển mênh mông, hiểu thêm về những chiến sĩ Hải Quân VNCH qua câu chuyện của Võ Bằng, từ một Thiếu úy mới ra trường Sĩ quan Hải Quân ở cuốn 1 cho đến khi trở thành Đại úy Hạm trưởng Trợ Chiến Hạm Rạch Gầm ở cuốn 3. Nhờ tài chỉ huy sáng suốt, linh hoạt, anh cùng đồng đội đã tích cực ngăn chận địch xâm nhập bằng đường biển, bảo vệ hữu hiệu lãnh hải Miền Nam. Riêng anh, được thăng cấp Thiếu tá tại mặt trận cùng ân thưởng huy chương Anh dũng bội tinh với nhành dương liễu. Kết thúc là một đám cưới Hải quân nhộn nhịp, tưng bừng, trong hạnh phúc ngập tràn của đôi bạn Võ Bằng – Huỳnh Như Oanh.
Với một văn phong trong sáng, kiến thức rộng, hiểu rõ tâm lý nhân vật cộng thêm kinh nghiệm của một sĩ quan Hải Quân VNCH đã từng là Hạm trưởng, Vũ Thất cuốn hút người đọc ngay từ những chương đầu tiên. Ngoài ra, chuyện tình yêu cũng được đan xen giúp cho không khí truyện bớt căng thẳng, đầu óc độc giả được thư giãn hơn sau những chương hải chiến đụng độ với máu lửa, chết chóc.
Trong cuốn 3, độc giả như được sống thật với thủy thủ đoàn vào những lúc gian nguy, khó khăn cũng như khi hạnh phúc nhất. Cũng để thấy được bản lĩnh của người hạm trưởng mà như ở chương đầu tiên, Đề đốc Tư Lệnh Hải Quân đã khéo léo nhắc nhở Võ Bằng: “Chỉ huy chiến hạm là một nhiệm vụ vô cùng tế nhị, khó khăn. Chiến hạm là thế giới cô lập giữa đại dương mênh mông. Hạm trưởng là người duy nhất chịu trách nhiệm sinh mạng toàn bộ thủy thủ đoàn và tài sản quốc gia. Mệnh lệnh nhận được thì rõ ràng, nhưng cách thi hành thì không ai hướng dẫn. Hạm trưởng phải tự dùng hiểu biết, kinh nghiệm, sáng kiến của mình. Thành công thì thăng tiến, thất bại thì có khi đại dương là mồ chôn tất cả.”
Khi “chiến hạm sắp sửa ngang qua Hòn Mấu tiến đến Hòn Nồm, cực nam của quần đảo Nam Du trên đường đến Gành Dầu, thời tiết không còn thuận lợi. Gió giật, rít... Sóng rung lắc con tàu. Mây đen chớp giật, tung cơn mưa rào xối xả... Radar bị nhiễu xạ, không thể thấy đối vật...” Võ Bằng dùng học thuật lẫn kinh nghiệm hải hành bằng chiều sâu để con tàu được an toàn. Hoặc lúc Rạch Gầm đụng độ với tàu Bắc Cộng tiếp tế vũ khí ở Rạch Vẹm. Khi thấy tàu địch bỏ chạy cách 4 hải lý vẫn còn trong tầm đạn, hạm trưởng hỏi phòng radar vị trí mới nhất rồi cho lệnh bắn 4 quả đại bác 76 ly 2. Kết quả tàu địch trúng đạn, bốc cháy.
Cuốn sách cũng nói lên tính nhân ái của người chiến sĩ VNCH, luôn nghĩ tới dân, đúng với lời dạy của Đức Trần Hưng Đạo trong Binh Thư Yếu Lược: “Người làm tướng trước hết phải tu thân, giữ tín, trọng nghĩa, khiển quân như con, dân như nước. Có như vậy, thiên hạ mới yên.” “Khoan thư sức dân làm kế bền gốc sâu rễ” và “lấy nhân nghĩa mà giữ nước”. Như khi gặp “tàu đánh cá hiện rõ ngay trước mũi, Võ Bằng ban lệnh tránh va chạm vì nếu hai tàu va vào nhau, tàu kia mỏng manh hơn chắc chắn thiệt hại nặng hơn. Tàu Hải Quân hư thì có Hải Quân Công Xưởng. Còn tàu đánh cá, họ phải bỏ tiền túi vốn eo hẹp.” Trường hợp gặp tàu đánh cá hư máy, trôi giạt nhiều ngày, ngư dân kiệt sức hoặc bất tỉnh, chiến hạm cũng hết lòng tiếp cứu. Thêm nữa, trong cuộc chiến, họ không nhìn ta-địch, mà nhìn bằng trái tim Việt Nam giữa những người anh em, đồng bào, cùng một mẹ Âu Cơ. Trong “Chiến tranh Việt Nam và tôi”, nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn có lần tâm sự: “Xem chiến cuộc như tai trời ách nước / Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước / Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi / Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi...” Hạm trưởng Võ Bằng cũng cùng tâm cảm. Sau cuộc đụng độ với địch, nhìn nước đỏ loang loáng mặt biển, anh không vui với chiến thắng. “Anh nghĩ đến cha mẹ, vợ con của những kẻ chết chìm. Nỗi đau của họ bao giờ mới nguôi? Vì đâu mà phải vào Nam để chết?” Nhưng giữa chiến trường, anh không còn một lựa chọn nào khác: một mất một còn, giết hay bị giết!
Ngoài ra, cuốn sách cũng giúp người đọc hiểu được người lính biển hơn. Thấy vậy mà không phải vậy! Nhớ “ngày xưa còn bé”, tôi cũng hay nghêu ngao hát “Thủy Thủ và Biển Cả” của Y Vũ: “Với biển cả anh là thủy thủ, Với lòng nàng anh là hoàng tử, Nhớ chuyện ngàn đêm xứ Ba Tư, Và chuyện thần tiên bao thế hệ...” Rồi có lúc được ngắm nhìn họ đứng nghiêm chào cờ trong bộ lễ phục trắng tinh: áo trắng, cầu vai gắn cấp bậc màu vàng lấp lánh, quần trắng ủi thẳng nếp. Sĩ quan đội mũ Kê-pi trắng, phía trước gắn phù hiệu mỏ neo vàng, thủy thủ thì đội mũ Polo trắng không vành... Từ đó, tôi mường tượng cuộc đời người lính Hải Quân chắc đẹp và sướng lắm! Họ được ở trên tàu, ăn uống đầy đủ, ngủ có giường hẳn hoi. Trái hẳn với các binh chủng khác, người lính phải mang ba-lô, nón sắt, súng đạn, lương khô, tư trang nặng trĩu trên vai trong những chuyến hành quân rừng núi, hoặc lội bùn sình ở chốn ruộng đồng. Cơm thì gạo sấy. Đêm ngủ bờ ngủ bụi, có khi ngủ tại những ngôi mồ mả, gian khổ vô cùng. Nay mới rõ: “khi tàu rời bến, mọi người cũng đều vất vả, bụi đời”. Tất cả những tiện nghi đó chỉ nhằm giúp người lính biển đủ sức chịu đựng giữa đại dương bao la khi đụng trận hoặc lúc gặp cuồng phong. Đó là “cơn cuồng nộ bất thường. Gió đẩy sóng dựng đứng, đuôi tàu trên đỉnh sóng, cả bánh lái lẫn chân vịt quay trong không khí. Dòng hải lưu xoáy mạnh, khiến tàu bị cuốn theo và có thể bị nhận chìm... Cho dù máy ước định vị trí DRT và máy đo chiều sâu vẫn bền bỉ hoạt động, nhưng trong cuồng phong, không có gì bảo đảm để con tàu không mắc cạn hoặc va vào đá ngầm.”
Hãy tưởng tượng, “một chuỗi ba cơn sóng khổng lồ liên tiếp, cao như dãy núi, ập thẳng vào mũi và thân tàu. Rạch Gầm bị hất bổng lên, rồi rơi tự do xuống một hố sâu. Mọi người cảm giác hụt hẫng, thót tim. Thân tàu kêu răng rắc như thể sắp vỡ toang ra từng mảnh. Đài chỉ huy nghiêng 45 độ. Lan Như bị hất văng, hét lên, đầu đập vào vách. Anh hạ sĩ quan quay lui, một tay bám vào thành đài, một tay kéo Lan Như lên. Nàng gượng gạo đứng nhưng rồi đổ gục xuống. Sàn tàu trở thành điểm tựa duy nhất cho nàng. Và cái xô trở thành bạn thân thiết. Nàng há miệng, gục đầu lên miệng xô, lại ụa mửa...” để thấy khi cuồng phong ví như con tàu đang đụng trận... Những lúc ấy, hạm trưởng cũng phải cố giữ bình tĩnh tính toán cẩn thận, kể cả cầu nguyện với các đấng thiêng liêng mong cho con tàu bình an.
Thêm vào đó, tác giả còn khéo lồng vào những câu chuyện, truyền thuyết, sự tích, văn chương, lịch sử, ... về những hòn đảo mà chiến hạm có dịp đi ngang qua hoặc đến công tác rất cuốn hút, thú vị, giúp người đọc mở mang thêm kiến thức. Đặc biệt, tôi thích thú với câu chuyện chung quanh quần đảo Trường Sa, được người Việt khai phá từ thế kỷ 17, bia chủ quyền: Vạn Lý Trường Sa được dựng từ thời Minh Mạng. Đến thời Việt Nam Cộng Hòa, ta tiếp tục khẳng định chủ quyền, dựng bia mới và xây trạm khí tượng trên một đảo tương đối lớn, gọi Trường Sa Lớn. Nhưng cũng không khỏi ngậm ngùi khi biết đảo lớn nhất là Ba Bình bị Đài Loan chiếm và đảo Thị Tứ lớn thứ nhì cũng bị Phi Luật Tân chiếm khi Việt Nam ở vào thời buổi chia cắt đất nước.
Gấp cuốn sách lại, tôi không khỏi thầm phục tác giả. Đã hơn 50 năm lìa xa biển, vậy mà ông vẫn nhớ như in những mệnh lệnh, những con số, những kỹ thuật để điều hành con tàu ở mọi tình huống. Có lúc ông cho máy tiến 3, lúc tiến full, hoặc lúc lái hướng 300, lúc lái hướng 310, v.v... Chắc chắn hải nghiệp vẫn còn nằm trong máu thịt, tim óc của ông. Nếu có kiếp sau, tôi đoan chắc ông cũng xin theo nghề... lính biển, để tiếp tục (trở thành) “hành nghề” hạm trưởng. Có đúng không, thưa tác giả Vũ Thất?
Đời Thủy Thủ là bộ truyện tâm huyết để lại cho những thế hệ sau về cuộc chiến đấu kiêu hùng của Hải Quân VNCH, mà ngay từ quyển đầu tiên đã từng được nhà thơ Nhất Tuấn ngợi khen là “tác phẩm xuất sắc viết về đời lính”.
Trần Thị Nguyệt Mai
2/8/2026
* Mua sách, xin liên lạc tác giả: vuthat@yahoo.com