Phạm Đức Thân
THỜI TRANG VÀ ĐỒNG HỒ ĐEO TAY

Đồng hồ đeo tay là một phụ kiện trang sức như mũ, bao tay, nhẫn, vòng, dây chuyền...nhưng quan trọng hơn vì chức năng thực tiễn là cho biết thời gian. Ngoài ra nó còn là thời biểu của thay đổi xã hội, phát triển văn hóa và diễn biến thời trang. Nó cũng còn là một trang sức có tính cá nhân mạnh mẽ, cho thấy bản thân chủ nhân, cách người đó muốn tự trình diện trước công chúng với xác nhận đầy đủ về phái tính, tuổi tác, thị hiếu thẩm mỹ, hoạt động và sở thích. Nó có thể là chỉ dấu chính xác về tài sản, ước vọng. Nó đã trở thành một thời biểu của các trào lưu thẩm mỹ và một động cơ của thị hiếu tiêu thụ đổi thay không ngừng.
Vậy động lực nào đã khiến có người chỉ cần một đồng hồ đeo tay Casio kỹ thuật số giá vài chục đô, trong khi người khác phải đòi cho được một Rolex giá vài chục ngàn đô? Tại sao có người chỉ cần 1 cái dùng mãn đời hoặc hỏng mới thay, trong khi người khác phải có nhiều sưu tập và dùng mỗi dịp 1 đồng hồ khác nhau?
Lịch Sử Đồng Hồ Đeo Tay
Lịch sử đồng hồ đeo tay mang tính kỹ thuật và thực tiễn, cũng như là một chỉ dấu của thời trang và căn cước cá nhân.. Nó là một đồng hồ nhỏ gọn có thể mang theo người, không như đồ đạc hay vật dụng lớn khác, Phát minh của đồng hồ xuất phát từ biến chuyển lớn của con người, từ giai đoạn sống theo nhịp điệu thay đổi của thiên nhiên (vd. vị trí của mặt trời và mặt trăng, mùa màng, ngày đêm, di dời của muông thú...) sang giai đoạn sống theo phân chia thời gian nhân tạo trong sinh hoạt.
Người ta thường cho rằng phát triển của đồng hồ tương ứng với phát triển của Cách Mạng Kỹ Nghệ vì nó là công cụ kiểm soát lao động của nhân công xưởng thợ. Tuy nhiên chứng cớ cho thấy chúng có trước đó. Hồ sơ về trộm đồng hồ và kê khai của tiệm cầm đồ cho thấy đồng hồ thường là mục tiêu của trộm và là tài sản dự phòng của dân nghèo thường được đem cầm cố khi túng thiếu. Ngoài ra còn có một thị trường ổn định mua bán đồng hồ cũ.
Thật ra, nhiều thợ thủ công, tay nghề cao, lợi tức khá, sở hữu đồng hồ hơn là số nhân công xưởng thợ, hầm mỏ. Ngoài ra có khuynh hướng để đồng hồ ở nhà khi đi làm, trừ người làm trong ngành chuyên chở, cần đồng hồ để biết theo đúng thời biểu. Đồng hồ thường đeo trong thời gian vui chơi, giải trí như xem đua ngựa, đua xe đạp, nơi hoạt động công cộng. Khi không sử dụng chúng thường được treo ở thành giường, cột giường, hay chỗ gần lò sưởi ống khói.
Lịch sử cho thấy động lực phát triển đồng hồ thoạt tiên vì thích thú, nhàn tản, muốn có thứ đeo tay, hơn là xác định thời gian, vì những đồng hồ đầu tiên thường hỏng hóc. Mãi đến khi phát minh lò so cân bằng và bánh xe cân bằng hồi nửa sau thế kỷ XVII đồng hồ mới trở nên tin cậy chỉ đúng giờ.
Có 2 nhân tố khiến dân chúng bình thường muốn sở hữu đồng hồ: một, chúng là chỉ dấu của đặc quyền; hai, chúng là trương mục dự phòng của người nghèo vì có giá trị cầm cố. Ngoài ra đồng hồ không chỉ là một công cụ máy móc cơ bản nhưng còn được tô điểm đẹp đẽ, thường làm bằng bạc, mặc dù thứ đắt hơn có thể bằng vàng và thứ rẻ hơn làm bằng kim loại hỗn hợp.
Mặt đồng hồ có khi rất kiểu cọ với họa tiết Trung Hoa, đá quý, và dấu ấn riêng của chủ nhân, qua những hình ảnh như mỏ neo, thiên thần, tầu thuyền, chân dung, súc vật, hoa lá hoặc tên chủ nhân viết tắt. Đồng hồ bỏ túi có đính dây chuyền bạc, hoặc giải băng tô điểm đẹp mắt. Như vậy đồng hồ đầu tiên nhiều tính trang sức và phô trương một vật kỹ thuật tinh xảo. Khổ nhỏ gọn, dạng thanh lịch, vỏ bạc lung linh, kính lóng lánh, kim và mặt đồng hồ tô điểm láng coóng, tất cả bao gồm các đặc trưng của trang sức thế kỷ XVIII.
Các ông tìm mọi dịp để vung tay phô trương đồng hồ cho thấy đặc quyền làm chủ đầy uy thế. Đồng hồ trở thành một phụ kiện của trang phục, khẳng định đẳng cấp xã hội. Nó còn là dấu hiệu nam tính làm chủ kỹ thuật, song song với những phát minh khoa học và kỹ thuật đương thời. Giai đoạn này đồng hồ chủ yếu là trang sức của đàn ông. Ít phụ nữ đủ điều kiện tự sở hữu một đồng hồ; nếu có được thường là quà tặng từ người khác (vd. tình nhân, họ hàng...).hoặc do được thừa kế.
Mặc dù đồng hồ thường được coi là phát minh của Âu châu, nhưng đồng hồ đầu tiên là một tháp nước cao khoảng 10 mét thực hiện ở Trung Hoa năm 1092, vận hành bởi một cơ chế phức tạp nhờ thủy lực. Năm 1126 nó bị ngoại xâm Thát Đát phá hủy và đến nay vẫn chưa phục chế được. Tới năm 1577 nhà truyền giáo Matteo Ricci mang đồng hồ tới Trung Hoa, dân chúng quan tâm thích thú trở lại, khiến năm 1680 Khang Hi cho mở 27 tiệm đồng hồ trong Cấm Thành Bắc Kinh. Mặc dù đồng hồ Trung Hoa sản xuất không bao giờ được tiêu thụ nhiều như mong đợi, nhưng dân Trung Hoa lại là một lượng tiêu thụ quan trọng của đồng hồ Âu châu. Các nhà sản xuất Anh, Thụy Sĩ và Pháp thế kỷ XVIII kiến tạo những kiểu hợp thị hiếu và điều kiện khí hậu Trung Hoa, dùng kiểu cọ hoa văn Trung Hoa, đá quý, ngọc trai, chuông rung, và tô điểm tinh xảo với những họa tiết li ti.
John Harrison người Anh khoảng nửa sau thế kỷ XVII phát minh đồng hồ đếm giờ hàng hải (marine chronometer) có thể được coi là mốc phát sinh của đồng hồ hiện đại. Sau đó phát triển kỹ thuật cơ chế vận hành, cùng với chất liệu mới và các bộ phận được làm thật nhỏ, dẫn đến thay thế đồng hồ bỏ túi bằng đồng hồ đeo tay hồi cuối thế kỷ XIX. Có người cho rằng việc này bắt nguồn từ chuyện một người giữ trẻ buộc đồng hồ bỏ túi vào cổ tay bằng một giải lụa nhỏ, trong khi người khác lại bảo công đầu thuộc về Patex Phillipe, ngườì đã làm đồng hồ đeo tay từ năm 1868.
Đồng hồ trở nên đặc biệt hữu ích trong các hoạt động giải trí và thể thao, là phương tiện để quy định luật lệ đối với các người tham gia, về thời gian thi đấu và phân chia thành hiệp, chặng...trong đấu võ, đua ngựa, quần vợt, bóng tròn và các môn thể thao khác. Nó thiết yếu quan trọng trong những môn mà thời gian phải thật chính xác, như đua ngựa, chạy đua, bơi lội, và về sau dùng trong cả đua xe đạp, đua xe hơi. Đồng hồ và thể thao tương quan mật thiết, với hệ quả là hiệu đồng hồ có thể đồng nghĩa với sự kiện thể thao, qua bảo trợ và được chính thức độc quyền sử dụng trong suốt thời gian diễn ra thi đấu. Để quảng cáo và kỷ niệm Olympic 2008 ở Bắc Kinh, Omega đã phát hành trong suốt thời gian thi đấu một loạt những series đồng hồ đặc biệt có hình logo Olympic 5 vòng tròn, rất kiểu cọ và đắt giá, số lượng hạn chế. Quảng cáo đồng hồ cũng thường dùng hình ảnh thể thao và lực sĩ nổi tiếng mà đặc điểm và thành tích cá nhân thường được liên kết với đặc tính của đồng hồ, làm ảnh hưởng đến thói quen mua sắm của khách hàng. Thay vì mua thời gian họ mua đặc điểm và lối sống cá nhân được gán vào kiểu hoặc hiệu đồng hồ.,
Khả năng đeo tay của đồng hồ nhanh chóng lấn át các phong cách đương thời của trang sức vàng bạc, đá quý. Những đồng hồ đầu tiên cạnh tranh để hấp dẫn thị hiếu thẩm mỹ của khách hàng, cũng như khoe ra những đặc tính kỹ thuật của cơ chế vận hành. Có thể đeo tay và nhiều kiểu cọ khiến đồng hồ nhanh chóng được đón nhận rộng rãi - thoạt tiên tại các đô thị như London, Paris, Geneve và Rome, rồi lan sang các trung tâm khác trong vùng.
Phụ nữ cũng bắt đầu đeo đồng hồ, đôi khi với vòng đeo trạm trổ cầu kỳ đẹp mắt, gắn đá quý, như đồng hồ hiệu Cartier. Trào lưu Tân Nghệ Thuật (Art Nouveau) cũng ảnh hưởng đáng kể trong thiết kế đồng hồ với hình ảnh, họa tiết trên mặt đồng hồ. Nhà sản xuất cũng thử nghiệm các hình dạng (thoi, chữ nhật, vuông, bán nguyệt...) cũng như mầu sắc, chất liệu mới và dây đeo đủ mọi kiểu loại khác nhau.
Tới thế kỷ XX đồng hồ đeo tay là trang sức thông dụng của đại chúng, với cải tiến không ngừng về vận hành, độ bền lău và nguồn hoạt động. Nhiều canh tân như không thấm nước, có thể dìm sâu, chống từ trường, khả năng tự lên dây. Xuất hiện năm 1933 đồng hồ trẻ em có hình Chuột Mickey; năm 1956 đồng hồ có ngày tháng; năm 1957 đồng hồ chạy pin; năm 1962 đồng hồ chạy pin quartz; và năm 1970 đồng hồ điện tử. Phát triển sau cùng này gây xáo trộn trong kỹ nghệ đồng hồ, đặc biệt tại những nước như Thụy Sĩ, lâu nay vẫn hãnh diện về thủ công tinh xảo và nghệ thuật cao trong sản xuất đồng hồ máy.
Về mặt phí tổn, giá cả đồng hồ máy không thể cạnh tranh với đồng hồ điện tử rẻ hơn và đủ mọi kiểu loại. Có người đã tiên đoán đồng hồ máy sẽ trở nên lỗi thời. Để cứu vãn, công ty SMH của Thụy Sĩ năm 1983 đã cho ra đời đồng hồ điện tử siêu thời trang hiệu Swatch, nhắm vào giới trẻ và người du lịch nhiều, sành điệu, với những đợt thiết kế mới nhanh chóng, ngắn hạn. Swatch trở nên một phụ kiện phải có, được cổ động rầm rộ trên truyền thông đại chúng và các cửa hàng outlet tại các trung tâm mua sắm lớn, hoặc cửa hàng miễn thuế tại phi trường. Swatch quảng cáo bằng cách sử dụng công nhận của các người nổi tiếng, đầu tư vào các hoạt động hoành tráng của văn hóa đại chúng, liên kết với các sự kiện thể thao, nghệ thuật, môi sinh và chất lượng của nếp sinh hoạt. Swatch trở thành đồng nghĩa với có chất lượng, giá cả chấp nhận được, cách tân, vui sống và có chút tính đổi mới, cách mạng. Swatch chẳng những cứu vãn kỹ nghệ làm đồng hồ của Thụy Sĩ mà còn tạo cho nó một sinh khí mới. Đồng hồ được phóng vào không gian thượng từng của phụ kiện xa xỉ. Các nhà thiết kế thời trang và hiệu đồng hồ hăng hái xâm lấn thị trường đồng hồ, cạnh tranh với các hiệu nổi tiếng có truyền thống lâu đời như Omega, Cartier, Rolex, Tissot, Bulova...Đồng hồ của các nhà thiết kế thời trang như Chanel, Versace, Gucci, YSL, CK...nay chiếm một mảng đáng kể trong thị phần.
Mặc dù nhiều tiến bộ điện tử và giá không đắt của đồng hồ kỹ thuật số, vẫn còn một số người thích đồng hồ máy và đồng hồ kết hơp máy với điện tử. Đồng hồ bây giờ có thể lên mặt trăng hay xuống đáy biển; tự động, hiếm khi phải lên dây, và làm nhiều chức năng ngoài chỉ giờ. Sản xuất đồng hồ nay liên hệ đến mọi mặt của kỹ nghệ, từ sản xuất đại trà bằng máy computer đến thủ công cá nhân đối với khách hàng sành điệu khó tính.
Nghiên cứu về thái độ khách hàng đối với phẩm chất và giá trị của đồng hồ cho thấy tiếng tăm của tiệm đồng hồ là nhân tố quan trọng nhất để khách hàng xếp hạng. Hàng hiệu nổi tiếng bán trong các cửa hàng cao cấp được đánh giá cao nhất. Vốn văn hóa đầu tư trong tên hiệu đồng hồ và tên cửa tiệm kết hợp lại cho kết quả khiến hiệu này được chuộng hơn hiệu khác.
Đồng Hồ, Phái Tính và Căn cước.
Lich sử đồng hồ đeo tay liên hệ chặt chẽ với phát triển của nam tính hiện đại vì đặc tính kỹ thuật và khoa học cũng như khả năng của đồng hồ tương ứng với đặc tính của phái nam. Đó là sự chính xác, kỷ luật và canh tân không ngừng cũng như kiến thức khoa học về kỹ thuật vận hành. Đồng hồ đeo tay đàn ông cũng cho thấy dấu hiệu của thẩm mỹ, tài thủ công và những nguyên tắc nền tảng của thiết kế. Chúng gộp lại tương tự như kỹ nghệ hóa và hiện đại hóa cũng như tấm gương phản ánh thay đổi của mỹ học và thời trang.
Về mặt biểu tượng phái tính, đồng hồ nam có mặt lớn hơn, dây đeo to hơn của đàn bà, và có thêm nhiều núm và kim phụ cho các phần vụ linh tinh khác. Đây là cách phô trương nam tính tuyệt vời. Ngoài ra vẻ toàn diện kim loại lóng lánh hình như là dấu hiệu của nghề nghiệp đàn ông thường dính líu đến máy móc, gợi ra sự cứng rắn, góc cạnh, chắc chắn, là cá tính mạnh mẽ của phái nam.
Ngược lại, đồng hồ đàn bà là phụ so với nữ trang là chính, và phản ánh xung động nhất thời của thị hiếu thời trang liên tục thay đổi từng giai đoạn, đặc biệt qua xử dụng vàng, đá quý gắn vào đồng hồ hay dây đeo, tạo thành một trang phục nghệ thuật. Cho thấy đồng hồ nữ nhiều khi không phải chỉ là phụ kiện thuần túy. Hiện tượng này do tính cách của phụ nữ là phù phiếm, hời hợt, nhẹ dạ... Đồng hồ nữ xem nhẹ tính kỹ thuật, chú ý nhiều tính trang điểm, nhất là theo thời trang thịnh hành. Đồng hồ phụ nữ nhỏ hơn bao hàm tính kín đáo, dễ thích nghi, không quan trọng như nam. Nó là phụ kiện tiện ích thực tiễn, có chút giá trị tô điểm, nhưng không thể sánh với y phục biểu lộ rõ cá tính, ước vọng nhiều hơn.
Quảng cáo đồng hồ đã tạo nên những hình ảnh nam và nữ bên cạnh đồng hồ để xưng tụng những đặc tính thành đạt, thời trang tiến bộ, hấp dẫn phái tính, sống xa hoa, sức mạnh lực sĩ, thân thể đẹp, nhạy bén nghệ thuật và nhàn tản hưởng thụ. Đồng hồ nam đề cao giá trị và đặc tính nam nhi cổ truyền, mặc dù hiện đại cũng có những xáo trộn. Đồng hồ là một phụ kiện trang sức, đàn ông có thể đầu tư ý nghĩa thời trang và thị hiếu thẩm mỹ cá nhân.
Mặc dù bên ngoài đồng hồ có vẻ là một trang phục không phân biệt giới tính, thật ra nó khắc sâu những ý nghĩa giới tính, tài sản, ước vọng, trình diễn thân thể, và phong cách xã hội của thời đại.
Đồng hồ làm thời gian không bao giờ được đứng yên.
Phạm đức Thân