Nữ Thi Sĩ Anne Carson của Canada
đoạt giải Nobel Văn chương 2026
Ngày 8/10, Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố nhà thơ, dịch giả và học giả văn chương cổ điển Anne Carson của Canada sẽ đoạt giải Nobel Văn chương 2026 với lời nhận định sau: Sự nghiệp văn chương của bà là sự giao thoa giữa niềm đam mê ngôn từ của một nhà nghiên cứu cổ học và khát vọng tìm kiếm ý tưởng mới của một nhà thơ".
Trong một bài đăng trên mạng xã hội X, Thủ tướng Canada Mark Carney đã đón chào tin này bằng cách ca ngợi các tác phẩm của Carson, gọi chiến thắng của bà là "một thành tựu phi thường và là niềm tự hào của Canada. Với sự dí dỏm, trí tưởng tượng phong phú và phong cách độc đáo không thể trộn lẫn, thi sĩ Anne Carson đã tái hiện lại các tác phẩm kinh điển theo một cách hoàn toàn mới. Bà đã mang những câu chuyện cổ xưa đến với độc giả mới và thay đổi cách chúng ta nhìn nhận về văn học.”
Về phần bà Carson, nữ thi sĩ đang ở tại nhà riêng thuộc thành phố Reykjavík khi hay tin. Theo báo New York Times và người đại diện Nicole Aragi, phản ứng của bà chỉ gói gọn trong một từ: “Yikes”. Kiểu người Việt kêu trời trước một tin vui bất ngờ.
.png)
Giải Nobel Văn Chương 2026 được trao cho nữ thi sĩ Anne Carson của Canada. (Ảnh: Getty Image)
Phong cách và văn phong
Theo Chủ tịch Ủy ban Nobel Anders Olsson, hầu như toàn bộ sáng tác của Carson xoay quanh giao điểm giữa nỗi ám ảnh của nhà ngữ văn học với từ ngữ và khát vọng của nhà thơ về những ý nghĩa mới. Bản thân Carson xem cội nguồn của từ ngữ (etymology) là điểm xuất phát cho mọi tác phẩm. Bà kết hợp nhuần nhuyễn giữa viết thơ, dịch thuật và giảng dạy trong suốt sự nghiệp.
Trong Economy of the Unlost (1999, tạm dịch: Kinh tế của những điều không mất), bà đối chiếu thi sĩ Hy Lạp thế kỷ VI TCN Simonides xứ Keos với Paul Celan. Trong Men in the Off Hours (2000, tạm dịch: Đàn ông trong giờ nhàn rỗi), bà đặt sử gia Thucydides cạnh nhà văn Virginia Woolf. Cách viết này tạo ra những tác phẩm vừa tinh nghịch vừa mỉa mai, di chuyển giữa thơ cổ điển và hiện đại, giữa các thể loại và loại hình nghệ thuật.
Từ cuốn tiểu luận dài Eros the Bittersweet (1986, tạm dịch: Eros: Đắng cay và Ngọt ngào), Carson đã đặt nền móng cho toàn bộ sự nghiệp về sau. Cuốn sách lấy một tính từ ghép của Sappho – định nghĩa Eros là sự hòa quyện giữa đau đớn và ngọt ngào – để lý giải khoảng cách giữa người yêu và người được yêu như động lực sáng tạo bài thơ. Bà gọi phương pháp của mình là "nhãn quan lập thể", cho phép "giữ thăng bằng hai góc nhìn cùng lúc".
Những tác phẩm tiêu biểu
Một số tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp của Anne Carson được Ủy ban Nobel vinh danh gồm:
- Glass, Irony, and God (1995, tạm dịch: Thủy tinh, Mỉa mai và Chúa trời): Trong đó The Glass Essay là trường ca bằng thơ về nỗi đau và tình yêu đơn phương. Người kể chuyện là một phụ nữ bị chồng bỏ, về thăm người mẹ cô độc nơi đồng hoang cùng những cuốn sách của Emily Brontë.
- Autobiography of Red: A Novel in Verse (1998, tạm dịch: Tự truyện màu đỏ: Tiểu thuyết bằng thơ): Tác phẩm lớn nhất của bà. Carson lấy các mảnh thơ của Stesichoros về quái vật có cánh màu đỏ Geryon làm điểm xuất phát, tái hiện nhân vật này thành một "người hùng" dịu dàng trong một tiểu thuyết trưởng thành hiện đại.
- The Beauty of the Husband: A Fictional Essay in 29 Tangos (2001, tạm dịch: Vẻ đẹp của người chồng: Tiểu luận hư cấu trong 29 điệu Tango): Khắc họa cuộc cãi vã sắc lạnh với người chồng dối trá qua 29 chương thơ mở đầu bằng văn liệu của John Keats.
- Nox (2010, nghĩa là Đêm): Tác phẩm tưởng nhớ người anh trai Michael quá cố. Sách được thiết kế độc đáo như một chiếc hộp chứa dải giấy gấp kiểu đàn xếp, gồm ảnh, thư từ và bản dịch của Carson từ bài thơ tưởng niệm số 101 của Catullus.
- Float (2016, tạm dịch: Trôi dạt) & Wrong Norma (2024, tạm dịch: Quy chuẩn lệch lạc): Tập hợp các văn bản đa dạng với tính trình diễn mạnh mẽ, nơi bà vượt biên sang nhiều lĩnh vực nghệ thuật và học thuật.
Bên cạnh sáng tác, Ủy ban Nobel đánh giá các bản dịch từ tiếng Hy Lạp cổ của Anne Carson là những tác phẩm nghệ thuật độc lập. Có thể kể đến: If Not, Winter: Fragments of Sappho (Nếu không phải mùa đông: Những mảnh thơ Sappho); Electra (Kịch Electra - dịch Sophocles); Antigone / Antigonick (Kịch Antigone - dịch và diễn giải lại Sophocles); Bakkhai (Những người phụ nữ Bacchus - dịch Euripides).
Một số tác phẩm sau này của Carson bao gồm cuốn *Nox* (2010) — một tác phẩm tưởng nhớ người anh trai quá cố — và tập thơ *Wrong Norma* (2024).
Ngoài ra, bà còn liên tục cộng tác với các nghệ sĩ thị giác, biên đạo múa, đạo diễn opera và sân khấu.
Tiểu sử thi sĩ Anne Carson.
.png)
Anne Carson sinh ngày 21.6.1950 tại Toronto, Canada. Bà theo học Trường St. Michael’s thuộc Đại học Toronto và nhận bằng Tiến sĩ ngành Cổ điển học năm 1981 với luận án mang tên Odi et Amo Ergo Sum (Tạm dịch: Tôi ghét và tôi yêu, vậy tôi tồn tại). Bà từng giảng dạy tại các đại học danh tiếng như McGill, Michigan, NYU và Princeton.
Ủy ban Nobel nhấn mạnh tầm quan trọng nổi bật của các tác phẩm do Carson sáng tác từ thập niên 1990 đối với đời sống nghệ thuật và văn chương quốc tế. Trước Nobel, bà từng đoạt giải Princesa de Asturias về Văn chương (2020), các giải Lannan, Griffin, T.S. Eliot cùng học bổng MacArthur, Guggenheim.
Theo nhận định của các nhà phê bình vặn học quốc tế thì nữ thi sĩ Anne Carson là một trong những tiếng nói đặc biệt của văn chương đương đại, với những tác phẩm vượt lên trên ranh giới giữa thơ, văn xuôi, đối thoại, dịch thuật và phê bình. Viện Hàn lâm Thụy Điển nhận định ở tác phẩm của Carson có sự giao thoa giữa niềm say mê ngôn từ của một nhà ngữ văn học và khát vọng tìm kiếm những khả năng mới của một nhà thơ.
Tốt nghiệp về văn chương cổ điển, bà Carson đặc biệt gắn bó với văn chương Hy Lạp cổ. Bà đã dịch các tác phẩm của Sappho, Euripides và Sophocles, nhưng với bà Carson, dịch thuật không đơn thuần là chuyển ngữ một văn bản từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Những chất liệu cổ điển thường tiếp tục được bà diễn giải, biến đổi và đưa vào những cấu trúc sáng tác mới.
Một ví dụ là Norma Jeane Baker of Troy (2019), tác phẩm trình diễn bằng lời nói và âm nhạc, lấy cảm hứng từ Helen của Euripides, đồng thời đặt hình tượng nàng Helen thành Troy bên cạnh Marilyn Monroe. Hai phụ nữ cách nhau hàng nghìn năm được Carson đặt vào cùng một không gian nghệ thuật để suy ngẫm về vẻ đẹp, sự quyến rũ, chiến tranh và cái giá mà con người phải trả cho những hình ảnh được tạo dựng quanh họ.
Điểm đặc biệt của sự nghiệp văn chương của Anne Carson là bà không chọn một thể loại văn chương cố định. Trong Decreation (2005), thơ được đặt cạnh tiểu luận, kịch bản, oratorio và libretto opera. Ở trong bà, hình thức thể loại văn chương không quan trọng. Tất cả chỉ là cách kể một câu chuyện của quá trình khám phá ý tưởng.
Hay trong Autobiography of Red (1998), Carson lại tìm đến thần thoại Hy Lạp để tạo nên một câu chuyện rất hiện đại. Geryon, nhân vật quái vật có cánh trong thần thoại, được bà biến thành một thiếu niên với những trải nghiệm về tình yêu, ham muốn, tổn thương và trưởng thành. Tác phẩm thường được gọi là một "tiểu thuyết bằng thơ", vừa dựa trên chất liệu cổ điển vừa phá vỡ những quy ước quen thuộc của tiểu thuyết và thơ.
Carson cũng đưa những trải nghiệm riêng tư vào các thử nghiệm hình thức của mình. Nox (2010) là một trường hợp đặc biệt. Sau cái chết của người anh trai Michael, Carson tạo nên một tác phẩm tưởng niệm dưới hình thức một cuốn sách được gấp như đàn accordion, đặt trong hộp, kết hợp thơ, bản dịch, thư từ, ảnh gia đình, ghi chép và những mảnh ký ức. Tác phẩm được cảm hứng từ bài thơ số 101 của nhà thơ La Mã Catullus, viết về người anh đã mất, qua đó nỗi đau riêng của Anne Carson được diễn đạt qua những vần thơ tưởng niệm cổ điển.
Từ thần thoại Hy Lạp, thơ Sappho đến những mất mát riêng tư, Anne Carson liên tục đặt quá khứ và hiện tại vào một cuộc đối thoại mới. Nobel Văn chương 2026 vì thế không chỉ ghi nhận một nhà thơ, nhà văn Canada, mà còn tôn vinh một quan niệm rộng mở về văn chương: khi những hình thức quen thuộc không còn đủ sức chứa một ý tưởng mới, nhà văn phải tự mình tìm ra hình thức ấy.
Những giải thưởng và danh hiệu khác mà Carson đạt được bao gồm Học bổng Guggenheim, Học bổng MacArthur và tước hiệu Thành viên của Huân chương Canada (Order of Canada). Bà hiện sống luân phiên giữa Iceland và Michigan, đồng thời nữ thi sĩ cũng từng giảng dạy tại nhiều trường đại học danh tiếng ở Hoa Kỳ như Đại học New York và Đại học Cornell.
Nobel Văn chương: Cuộc đua khó đoán
Ngày 8/10, giải Nobel Văn chương 2026 chính thức được công bố. Tuy nhiên, từ nhiều tháng qua, văn giới toàn thế giới đã bàn tán sôi nổi về những cái tên có nhiều triển vọng được Viện Hàn lâm Thụy Điển vinh danh năm nay.
Theo Nicer Odds, diễn đàn đã đoán trúng khi nhà văn Annie Ernaux giành giải Nobel Văn Chương 2022, những cái tên sáng giá được nêu ra năm nay là nhà văn Tàn Tuyếtên tuổi này đều là nữ giới. Nhưng nữ thi sĩ Anne Carson không có tên trong bảng danh sách của Nicer Odds. Người ta tin rằng Viện Hàn lâm Thụy Điển muốn có sự quân bình về giới tính và về khu vực khi lựa chọn người đoạt giải Nobel Văn chương để bảo đảm tính thần nhân bản và tầm rộng quốc tế vì đa số người đã nhận giải Nobel đều là nam giới và người Âu Châu da trắng. Do đó, năm nay, sự chú ý đổ dồn vào những tác giả nữ ở Á Châu và Nam Mỹ.
.png)
Từ trái sang: Cristina Rivera Garza, Margaret Atwood và Tàn Tuyết đang là những cái tên nữ gây chú ý tại Nobel Văn học 2026 (Ảnh: Indianexpress).
Trong ba người này thì nhà văn Tàn Tuyết – Can Xue của Trung Hoa đã được đề cử vào danh sách giải Nobel Văn Chương nhiều lần. Bà tên thật là Đặng Tiểu, sinh ngày 30 tháng 5 năm 1953. Tàn Tuyết là một tiểu thuyết gia và phê bình văn học tiên phong của Trung Quốc. Gia đình bà bị bức hại nặng nề vì cha bà bị coi là cánh hữu trong Chiến dịch chống cánh hữu năm 1957. Các tác phẩm của bà, phần lớn là truyện ngắn, phá vỡ chủ nghĩa hiện thực của các nhà văn Trung Quốc hiện đại trước đó. Bà cũng đã viết tiểu thuyết, tiểu thuyết ngắn và phê bình văn học về tác phẩm của Dante, Jorge Luis Borges và Franz Kafka. Tàn Tuyết được mô tả là "tác giả nổi bật nhất của Trung Quốc về tiểu thuyết xã hội thực nghiệm. Một số tiểu thuyết của bà đã được dịch và xuất bản bằng tiếng Anh.
Tác phẩm I Live in the Slums từng lọt danh sách International Booker Prize 2021 (giải thưởng văn học danh giá của Anh), đưa tên tuổi Tàn Tuyết đến gần hơn với độc giả quốc tế. Các tác phẩm nổi tiếng khác của bà có thể kể đến The Last Lover (2005), Frontier (2008), Vertical Motion (2011), Love in the New Millennium (2018)… Tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Bradford Morrow nhận định Tàn Tuyết là một trong những nhà văn "đổi mới và quan trọng nhất" của nền văn học thế giới đương đại. Tại Việt Nam, tác phẩm của nữ nhà văn này đã được dịch và xuất bản, trong đó phải kể đến Những chuyện tình thế kỷ mới, Phố Ngũ Hương
Theo danh sách Ladbrokes được Literary Hub trích dẫn, nhà văn Trung Hoa Tàn Tuyết đứng đầu nhóm ứng viên được đoán sẽ được trao giải năm nay , trước Haruki Murakami, Gerald Murnane và Thomas Pynchon. Có ý kiến cho rằng bà Tàn Tuyết không được vinh danh năm nay là do yếu tố địa lý. Viện Hàn lâm Thụy Điển thường trao giải lần lượt giữa các vùng địa lý trên thế giới. Năm nay địa điểm sẽ là vùng Bắc Mỹ hay Nam Mỹ.
Yoo Sang Hoon, biên tập viên của Minumsa Publishing Group, đồng thời là người đã dự đoán chính xác những người chiến thắng trước đây như Annie Ernaux (2022) và Jon Fosse (2023), đã chọn nữ nhà văn Mexico (Nam Mỹ) Cristina Rivera Garza là người đoạt giải năm nay.
Vì sao rất khó đoán giải Nobel Văn Chương?
Kết quả của Nobel Văn chương vẫn luôn được xem là khó đoán và Viện Hàn lâm Thụy Điển đã không ít lần gây bất ngờ.
Không như những giải Nobel khoa học, kinh tế thường trao vì một thành tựu cụ thể trong sự nghiệp, Nobel Văn chương xét đến toàn bộ chặng đường sáng tác của ứng viên và nhất là ảnh hưởng của sự nghiệp văn chương của các ứng viên trên đất nước của họ.
Gần đây, Cristina Rivera Garza có cuốn Liliana's Invincible Summer (2023) từng vào vòng chung khảo của giải National Book Award 2023 ở hạng mục phi hư cấu đồng thời giành giải Pulitzer ở mảng hồi ký hoặc tự truyện.
Cristina Rivera Garza được xem là một trong những cây bút nổi bật của văn học Mexico đương đại. Bà hiện sống và làm việc chủ yếu tại Mỹ, là giáo sư tại Đại học Houston.
.png)
Nhà văn Nhật Bản Haruki Murakami có một lợi thế mà nhiều cái tên khác không có: Độ nhận diện quốc tế đặc biệt lớn. Những tác phẩm như Rừng Na Uy, Kafka bên bờ biển, Biên niên ký chim vặn dây cót... đã đưa nhà văn Nhật Bản trở thành một trong những cây bút châu Á có lượng độc giả toàn cầu lớn nhất.
Năm nay, Murakami phát hành The Tale of KAHO tại Nhật vào tháng 7, tiểu thuyết dài đầu tiên sau 3 năm. Tác phẩm xoay quanh Kaho, một nữ tác giả sách tranh 26 tuổi, với câu chuyện mang màu sắc bí ẩn và siêu thực.
Đáng chú ý là các dự đoán bắt đầu nghiêng về Haruki Murakami ở giai đoạn cuối. Kalshi đưa ông lên đầu với 14%, trong khi Tàn Tuyết, Margaret Atwood và César Aira cùng ở mức 12%. Điều này khiến Haruki Murakami trở thành đối trọng rõ rệt với Tàn Tuyết trong những ngày cuối.
Những cái tên khác cũng được nhắc đến trước giờ công bố giải Nobel Văn chương 2026 là Gerald Murnane (Australia), César Aira (Argentina), Amitav Ghosh (người Mỹ gốc Ấn Độ), Anne Carson (Canada)… Vì thế khi tên Anne Carson được công bố là người đoạt giải, thế giới văn chương không khỏi ngỡ ngàng vì bất ngờ.
Nobel Văn chương là một trong 6 giải Nobel được trao hằng năm theo di nguyện của nhà khoa học, nhà phát minh người Thụy Điển Alfred Nobel. Giải nhằm tôn vinh một tác giả có những đóng góp nổi bật cho văn học, đặc biệt là những tác phẩm có giá trị sâu sắc và sức ảnh hưởng lâu dài.
Nobel Văn chương được xem là một trong những giải thưởng danh giá nhất thế giới dành cho các nhà văn. Người đoạt giải nhận huy chương Nobel, bằng chứng nhận và tiền thưởng.
Một số tác giả nổi tiếng từng đoạt Nobel Văn chương gồm Rabindranath Tagore, Ernest Hemingway, Gabriel García Márquez, Toni Morrison, Kazuo Ishiguro và Han Kang. Người đoạt Nobel Văn chương 2025 là László Krasznahorkai, nhà văn người Hungary.
Saigon Weekly tổng hợp