Hoàng Dược Thảo
Nhật Ký tháng 9-2026
Theo Dương lịch, 23 tháng 9 là ngày thu phân. Năm nay trùng với tết Trung Thu, trăng tròn. Từ mấy tuần trước đã có tin nhắc nhở trên đài Mỹ nhớ đón xem trăng vào nửa đêm đó, một vầng trăng tròn sáng hơn bao giờ hết vì đó là đêm mà vì sao Jupiter đến gần quả điạ cầu hơn bao giờ hết trong suốt hơn thập niên qua. Lần tới sao Jupiter đến gần trái đất là năm 2038 tức 12 năm sau.
Nửa đêm 25 tháng 9 khi tôi bước ra vườn sau và nhìn lên trời cao, vầng trăng sáng rực giữa trời, ánh sáng rực rỡ như hào quang. Tôi chợt nhớ về con số 12 nghe được trong bản tin chập tối. 12 năm có là bao khi chúng tôi còn trẻ nhưng với tôi, với các bạn tôi bây giờ, 12 năm, chao ôi là cách trở! Bởi vì 16 năm trước đây, chỉ trong một tháng 9, 2010 tôi đã phải tiễn đưa đến ba người bạn.
Người thứ nhất là nhà văn Thảo Trường. Tôi được quen biết anh từ khi tôi còn rất trẻ qua mối nhân duyên ngắn ngủi với một nhà thơ khi hai vị này cùng viết chung một tập truyện ngắn mang tên “Viên đạn bắn vào nhà Thục”. Từ đó trên đường đời, cuộc đời tôi luôn luôn có sự hiện diện của gia đình anh. Hình ảnh anh dù mơ hồ, lúc ẩn, lúc hiện như một người anh. Những lúc tôi gặp điều không vui trong gia đình là anh lại xuất hiện. Có thể vì cá tính anh vững chãi nên ông nhà thơ hay cậy nhờ anh khi phải “thương thuyết” chuyện gia đình.
Vài tuần sau 30 tháng 4-75, trước khi các sĩ quan miền Nam bị lừa đi tù nhưng thông cáo bảo là đi cải tạo một tháng của nhà nước mới, tôi đang đạp xe đi trên đường Hai Bà Trưng thì nghe tiếng người gọi tên tôi. Từ một quán cóc bên lề đường, anh Thảo Trường giơ tay vẩy. Anh hỏi tôi về tình cảnh gia đình tôi và cho tôi biết tình cảnh gia đình anh, chỉ còn anh ở lại, chị và các cháu đã ra đi, hy vọng được bình an. Tôi cho anh biết tôi cũng chuẩn bị để ra khỏi nước theo diện Pháp kiều và tin đồn khắp thành phố Saigon về xác chết của ông chồng nhà thơ nằm dưới chân cầu xa lộ là điều không thật. Trời Saigon mới tháng 5 nhưng có lẽ vì vận nước không may nên những ngày sau 30 tháng 4-75, trời Saigon lúc nào cũng âm u, nặng nề, chuyển mưa mà không mưa được. Anh dặn tôi bảo trọng, cho tôi một điạ chỉ để liên lạc và bảo trước khi đi Pháp nhớ ghé qua báo cho anh hay. Tôi lặng thinh như bao nhiêu người miền Nam trong những ngày tháng đó, thần trí tê liệt vì dù chưa hình dung được điều gì sẽ xảy ra cho mình nhưng ai cũng hiểu rằng đời sẽ thay đổi, lành ít dữ nhiều.
Lần đó là lần sau cùng tôi được gặp anh Thảo Trường ở trong quê hương, vì “một tháng” cải tạo của người cộng sản dùng để tập trung những sĩ quan của quân lực miền Nam Việt Nam trong trường hợp anh là gần 17 năm. Khi tôi sang đến Hoa Kỳ 3 năm sau, đời sống gia đình tan rã, nhưng tôi lại có dịp gặp lại chị Thảo Trường. Chị là một phụ nữ đảm đang, tháo vát mà tôi rất khâm phục. Trái với mọi người, trong mắt chị Thảo Trường, tôi lúc nào cũng là một “con bé thật tội nghiệp”.
Trong số những tập truyện ngắn anh xuất bản ở hải ngoại tôi thích nhất là tập Tiếng Thì Thầm Trong Bụi Tre Gai. Ý tưởng và văn phong trong đó cho thấy cái tâm như biển, cái lòng như núi khi nhìn lại người, nhìn lại mình, nhìn lại quê hương. Mỗi tháng khi Tân Văn phát hành tôi thường ghé qua nhà thăm anh chị và đưa báo trên đường đi về nhà. Bàn viết của anh đặt bên cạnh cái sofa nơi chị nằm dưỡng bệnh. Phòng khách la liệt những món đồ chơi của hai cô cháu ngoại. Anh vừa lo cho vợ, vừa trông các cháu. Làm sao có thể hình dung được hình ảnh “từ bi” hơn, khi thấy ông “nhà văn” trong tình cảnh đó. Anh thường đùa: ngày xưa chị ấy nuôi tù, bây giờ anh nuôi bệnh, 17 năm, coi như huề. Chị không chịu: nuôi tù khó hơn nuôi bệnh. Bởi vì tù làm gì mình không thể hình dung được. Chị Thảo Trường là như thế, chị có những ý tưởng thoáng qua rất nhanh, rất sắc bén nhưng cũng rất vui. Có thể nhờ thế, sau khi anh chị được đoàn tụ ở Hoa Kỳ, anh là nhà văn sáng tác nhiều nhất. Hai năm trước khi anh qua đời, chị Thảo Trường đã ra đi sau một thời gian dài mang trọng bệnh. Anh thường rất buồn. Tôi đã an ủi là dù sao anh chị cũng đã có với nhau 17 năm hạnh phúc khi gặp lại. Nhưng điều tôi không ngờ là một người trông rất khoẻ mạnh như anh lại ra đi nhanh chóng như thế. Những ngày tháng cuối, tôi không dám hỏi anh nghĩ gì? Vui, buồn, có sợ đối diện với cái chết khi còn quá nhiều điều anh muốn làm mà chưa hoàn tất hay không? Nhưng tôi nghĩ, có thể là anh sẽ vui, rất vui. Từ nay không có gì chia cách anh chị nữa: Cộng sản, quốc gia, tù cải tạo, hòa giải, hòa hợp, tù binh đều đã không có ở thế giới bên kia.
Người thứ hai tôi phải tiễn đưa là nhạc sĩ Trần Quan Long trong tháng 9/2010. Anh Trần Quan Long và anh Thảo Trường ra đi cùng một ngày (26 tháng 8 - 2010). Trong thập niên 90, chúng tôi có những ngày tranh đấu chống cộng ở cả hai miền Nam-Bắc Cali. Người bạn đời của nhạc sĩ Trần Quan Long là nhà văn Linh Linh Ngọc. Chị có một giọng nói đanh thép, hào hùng xứng đáng là con gái của một lãnh tụ của VNQDĐ, một nữ kiệt không thể thiếu trong những lần chúng tôi biểu tình chống cộng hay chống Việt gian.
Nhưng ngoài chuyện đấu tranh, tôi và anh chị Trần Quan Long và Linh Linh Ngọc còn có chung một thú vui: trồng cây, trồng bonsai. Tôi dọn nhà vài lần trong hai thập niên qua và lần nào thì cũng phải mang theo những cây hoa hồng trắng như nguyệt bạch, mỗi muà nở cả nghìn hoa trắng cả một góc sân, mà anh Long đã cho tôi từ rất lâu, từ khi cha tôi chưa mất. Anh chị còn ương sen hồng, loại hoa sen nhỏ xíu sống trong cái cốc mà vẫn nở hoa. Nhưng một ngày của năm 2007, tôi nhận được điện thoại của anh Long cho biết anh đang thu dọn nhà cửa và nếu tôi muốn, tôi có thể đến nhà anh chị để lấy bất cứ cây bonsai nào tôi thích. Lý do, chị LLNgọc đã quyết chí đi tu, chị đã bỏ anh mà đi. “Một mình tôi lo không nổi, cũng không tha thiết gì để mà săn sóc cho chúng nữa”. Rất dễ nhận nỗi buồn miên man qua giọng nói của anh. Người đi, không thể không biết nỗi trống vắng và sự đau khổ của người ở lại. Anh có than với tôi đôi câu về nỗi buồn nhưng mặc nhiên không có một lời trách móc nào. Tôi nhớ đến anh Trần quan Long và chị Linh Linh Ngọc thường ra sau vườn ngồi dưới rặng cây tóc tiên của ngôi nhà tôi ở Fountain Valley. Khu vườn vào buổi chiều dù muà hạ cũng mát lạnh mà anh chị rất thích. Có một lần, khi về chị gửi lại cho tôi bài thơ Uyên Ương Thảo. Lúc đó, tôi cũng nghĩ có lẽ tôi sẽ về hưu trong ngôi nhà đó. Nhưng bây giờ, tôi không còn ở đó nữa, anh Trần Quan Long đã vào thinh không, chị LLN không còn trong đời thường. Có nên không, nhắc lại về bốn chữ sắc sắc, không không của nhà Phật. Từ đó, tôi không còn nhận được điện thoại anh bàn luận về những vấn đề chính trị liên quan đến các bài viết cuả tôi, gửi tiền mua dài hạn báo Tân Văn. Nhạc của anh cũng như tâm trí của anh lúc nào cũng bừng bừng ngọn lửa đấu tranh, chống một chế độ phi nhân đang đè nặng lên đời dân Việt. Giờ phút lâm chung, anh chỉ tiếc là đời sống ngắn ngủi không còn có dịp nhìn thấy cờ vàng tung bay trên quê hương.
Người thứ ba tôi phải tiễn đưa trong tháng 9/2010 là ca sĩ Thúy Nga, vợ của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Tôi không được quen biết anh chị ở Việt Nam, chỉ từ khi sang Mỹ qua mối liên hệ bằng hữu giữa tôi và Thúy Diệm, em gái cuả chị Thúy Nga và qua những bài “Phiếm Dị” của Đào Nương, tôi mới được làm thân với chị. Khi anh HTThơ còn sống, mỗi khi về Orange County, anh chị thường gọi điện thoại rủ tôi đi ăn đồ Huế. Anh HTThơ lúc nào cũng chải chuốt. Trời Nam Cali có ngày rất nóng, anh vẫn “chơi” màu rực rỡ hơn ai hết. Áo chemise vàng, veston màu trắng hay áo trắng, veston vàng hực, tư cách của nghệ sĩ hiện ra lồng lộng, thật rõ. Chị Thúy Nga thì trái lại, lúc nào chị cũng xuề xòa khác hẳn những hình ảnh của chị trên những bìa nhạc trước 1975. Chị thay thận hai lần mà có lần chị đuà với tôi là thứ gì Made in USA cũng tốt hơn là Made in China. Lần đầu khi chị thay thận ở Mỹ chị khoẻ mạnh được gần 10 năm. Lần 2 khi thay thận ở Quảng Đông chỉ có 5 năm là hư. Khi đó chị đã lớn tuổi lại yếu sức nên không còn chịu nổi việc thay thận một lần nữa. Năm 2009 tôi lên thăm chị ở thành phố Van Nuys cùng với Thúy Diệm thì chị Thúy Nga đã rất yếu, bệnh tật đã hằn rõ nét trên chị. Hình ảnh đó không phải là hình ảnh mà mọi người ở miền Nam trước 1975 ghi nhớ về nữ danh ca Thúy Nga với mái tóc dài và chiếc phong cầm. Tôi nghĩ chị đã có một đời đáng sống của một nghệ sĩ: hết mình cho nghệ thuật một thời tuổi trẻ và âm thầm sống đời thanh cao khi đến tuổi già.
*
Tháng 9 năm 2010 qua đi như thế. Chúng tôi, những người bạn đã từng quen biết nhà văn Thảo Trường, nhạc sĩ Trần Quan Long, nữ ca sĩ Thúy Nga đều có cảm giác thời gian không còn chờ đợi chúng tôi nữa rồi. Lời hẹn của những ngày đầu tị nạn, của những thập niên 70, 80, 90 là sẽ về thăm lại quê nhà đã có nhiều người không giữ được. Bây giờ là tháng 9 của năm 2026, các bạn của tôi ơi, bạn hỏi tại sao tôi lại không buồn? Cũng may mà ngày thu phân năm nay, tôi vẫn có một vầng trăng rất sáng nhắc cho tôi nhớ các bạn tôi vẫn còn quanh quẩn đâu đây. Như ông trăng vẫn còn vằng vặc trên trời cao. Sẽ có một ngày, tôi trở lại quê nhà, cắm một nén hương vào lòng đất mẹ và khấn lời “đại diện” thay cho các bạn tôi đã không làm được điều này.
Đứa cháu nội tôi bế trên tay sinh năm 2010, ngày hôm nay đã 16 tuổi. Tuổi trăng tròn. Khi tôi đến Mỹ, tôi còn ở lứa tuổi 20, hơn cháu tôi ngày hôm nay vài tuổi. Những nhà văn, nhà báo Việt Nam thành danh trước khi lưu vong, người trẻ nhất cũng hơn tôi cả một thập niên. Tôi thường có dịp “dựa cột mà nghe” những ông này bàn chuyện lớn. Mà “lớn nhất” là làm sao có một tờ báo cho anh em góp mặt.
Thời đó, chưa có computer tiếng Việt. Tôi thấy các ông gò lưng bỏ dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng... Nhà văn thì chữ viết “như gà bới”, chỉ đẹp hơn chữ của bác sĩ, không như chữ nhà giáo nên khi bỏ dấu bằng tay, chữ một đàng mà dấu đi một nẽo. Rồi bàn bạc làm “việc lớn”, chạy tiền in và sau đó, liên lạc văn hữu khắp nơi nhờ phát hành, sưu tầm điạ chỉ của những ngôi chợ nhỏ của người Việt để gửi báo xin bày bán. Một tờ tạp chí nhỏ, vài chục trang vở học trò, các ông mất cả hai, ba tuần làm việc. Nhưng báo khó nhọc để gửi đi mà tiền thì hiếm khi trở lại. Mỗi khi mở được một thư đặt mua báo dài hạn là reo mừng hớn hở còn hơn như trẻ được quà. Kỷ thuật trình bài báo thì ôi thôi là … kiệt tác. Trang bià cũng như trang trong, tùy hứng. Mỗi trang là một “tác phẩm nghệ thuật” vì các nhà văn, nhà báo tị nạn phải mua chữ in sẳn hay chọn “chữ đẹp” từ những tạp chí Hoa Kỳ rồi cắt dán. Vì thế có lần trong sân chuà Việt Nam ngày phát tang cho thân phụ một nhà báo đồng thời cũng là học giả tên tuổi của Việt Nam, khi nhìn thấy bìa của tạp chí Nhân Chứng của ông DTL có 4 cái khung trong đó lổn nhổn các đề mục và tên tác giả, nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh đã phải nghiêng cái nón beret để nhìn cho rõ, rồi ông chép miệng: Bià báo của các cậu cứ như 4 cái chuồng heo, nhốt tất cả anh em vào đó. Sân chùa ngày tang lễ nhưng ai cũng phải bật cười. Vui vì anh em được gặp mặt, vui vì thấy những chữ mình viết tay nay đã nằm chểm chệ trên những trang giấy báo còn thơm mùi mực. Xá gì kỹ thuật, xá gì “4 cái chuồng heo”, xá gì chuyện mực ... che ngang mặt chữ .
Lúc đó tôi chưa hề cầm bút chứ đừng nói là theo nghiệp báo. Những giai thoại về nghề báo ở hải ngoại lúc bắt đầu những trang lịch sử tị nạn Cộng sản nghe qua là lạnh tóc gáy. Một nhà văn nữ kể chị đầu hàng chuyện làm báo ở hải ngoại vì không chịu nổi cái nhục khi đi thâu tiền quảng cáo ở chợ. Đến nơi, chờ khi ông chủ, bà chủ chợ vui vẻ mới dám đưa hoá đơn tính tiền quảng cáo rồi đứng qua một bên mà chờ … Khi thấy “ông bà” chủ chợ ngó sang hướng mình đứng đợi là mừng. Họ cứ bận bịu tính tiền rau, tiền hành, tiền tỏi, với khách nhưng nhà báo thì ôi thôi, cứ đợi. Tôi còn giữ những tờ báo thời tiền tị nạn, mỗi lần nhìn lại vẫn cứ thấy thương và tiếc ơi là tiếc. Một tạp chí như cuốn vở học trò 32 trang nhưng tôi đọc thấy 20 tên tuổi lớn của nền văn học Việt Nam ở trong ban biên tập. Nhưng bài viết của các anh trong đó thì không “nghèo” chút nào. Mỗi chữ như tiết ra lửa, như viết bằng máu trong tim, trái tim thổn thức vì xa quê, nhớ nhà. Cứ như thế mà tôi đi vào làng báo lúc nào không hay… Càng đi xa thì càng thương những người đi trước. Trong tâm cứ ước gì khi đó, các anh có được phương tiện về truyền thông, về kỹ thuật như bây giờ. Những ý nghĩ đó, những kiến thức đó chắc chắn sẽ truyền bá lại cho hậu thế biết bao điều thú vị. Tại sao tôi biết chắc như thế! Chả là vì tôi đã có cái may mắn được nghe, được đọc những bài viết của nhiều người đi trước trong trường văn, trận bút.
Vì thế, ngày nay, tôi rất buồn khi nhìn thấy những vị cao niên trong cộng đồng có vẻ như … rụt rè khi đối diện với những người trẻ tuổi. Cứ làm như khi nói tiếng Anh không rành, khi không có một địa vị nào đó của xã hội xứ người thì phần tư tưởng, phần kiến thức, phần kinh nghiệm đời sống của các vị sẽ không còn. Mà những người trẻ tuổi thì ngổ ngáo quá đi. Nói được tiếng Anh, có bằng cấp xứ người chỉ giúp các bạn tìm được một việc làm tốt trong xã hội nhưng muốn thành một trí thức, một kẻ sĩ, một nhà văn, nhà báo của Việt Nam, khi chỉ biết tiếng Anh mà không rành tiếng Việt, biết phong tục tập quán xứ người mà không biết phong tục tập quán đạo đức của Việt Nam, thuộc lịch sử xứ người mà không biết gì về lịch sử quê mình thì làm sao có thể trở thành một nhà hoạt động cho cộng đồng Việt Nam, một chính trị gia phục vụ cho quyền lợi của người gốc Việt hay để trở thành một nhà báo, nhà văn Việt Nam có tầm cở.
Tôi nhớ qua những lần được nghe ông Mai Thảo, ông Thanh Tâm Tuyền, ông Vũ Hoàng Chương bình thơ, nói về thơ mà sau đó tôi yêu thơ Việt Nam, yêu những nhà thơ đã cống hiến cho văn hoá Việt Nam những vần thơ trữ tình mà không có một nền văn hoá nào khác trên thế giới có thể so sánh với. Nhờ nghe ông Phạm Đình Chương nói về phổ nhạc từ thơ mà tôi biết thế nào là “linh hồn” của một nhạc phẩm phổ thơ. Nhờ nghe ông Trần Cao Lĩnh giảng về ánh sáng, về bố cục, về một điểm tới, một điểm sáng mà từ đó, tôi trân trọng những bức ảnh đẹp như nhìn thấy như những hoạ phẩm được người đời ca tụng. Nhờ nghe những nhận xét “đột xuất” về thời sự vô cùng dí dỏm của nhà văn Lê tất Điều mà nghiệp viết phiếm của tôi thành hình.
Cũng từ việc bước sâu vào nghề báo, tôi cũng được tiếp xúc, được nghe kể lại những chuyện nước non mình từ những bậc trí thức, những nhà chính trị yêu nước, thương dân, những người đã một thời điều binh, khiển tướng.... Bây giờ, tuổi đời đã cao, nhìn lại những quyết định sai lầm của họ, tôi chỉ thấy thương cho vận nước không may. Khi cờ đến tay nhưng không phương tiện, không đủ thông tin, không đủ những hiểu biết, những đủ kiến thức thì làm sao mà phất. Vì thế, với tuổi đời càng cao, với nghiệp báo càng dày, tôi luôn luôn giữ trong lòng sự kính trọng dành cho những bậc trí tuệ của Việt Nam một thời điêu đứng. Nhờ họ, nhờ những bài viết của họ, nhờ tư tưởng của họ trong 50 năm qua mà một nền báo chí Việt Nam hải ngoại chống cộng thành hình song song với sự lớn mạnh của cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản khắp nơi trên thế giới.
*
Vì thế, cách đây một thập niên, tôi thật vui khi thấy một thế hệ Việt Nam trưởng thành tại hải ngoại muốn nhập cuộc, muốn sinh hoạt chung với cộng đồng Người Việt hải ngoại trên nhiều phương diện, nhất là trong lãnh vưc truyền thông, truyền thanh, truyền hình và chính trị. Chuyện gì đã xảy ra trong thập niên qua? Trong số những người trẻ tuổi này bây giờ có người đã quay lưng lại với cộng đồng, nếu không muốn nói là họ ra mặt theo cộng? Nhưng có thực họ là cộng sản? Hay đó chỉ là một sự sai lầm? Trong tất cả mọi trường hợp, chúng ta nhìn thấy như có sự “đối đầu” giữa hai thế hệ, của hai nền văn hoá, giữa một bên là quốc gia, một bên là tự do tư tưởng, tự do phát biểu.
Thấy vậy mà không phải vậy. Những người trẻ tuổi này bước chân vào làng báo hải ngoại, một làng báo hình thành từ một cộng đồng tị nạn cộng sản, một cộng đồng không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản. Những người làm báo Việt ngữ ở hải ngoại ngày nay có thể không chuyên nghiệp nhưng họ biết một điều, nếu không chống cộng thì họ sẽ không được sự yểm trợ cuả quần chúng. Dù lớn lên sau 1975, họ không thể không nhìn thấy mặt thật cuả chế độ cộng sản nhưng họ thật kém may mắn khi không biết gì về một VNCH Tự Do, Dân Chủ trước 1975. Họ nghĩ về Việt Nam Cộng Hoà qua hình ảnh của những người bại trận thất cơ lơ vận ngày nay trên xứ người, chống cộng hăng say nhưng phức tạp vì đây là một cộng đồng mới hình thành, chưa có những cơ chế vững vàng để mọi người noi theo. Vì thiếu lòng kính trọng, những người trẻ tuổi mà Mỹ gọi là thế hệ 1 ½ này đã nghĩ rằng họ “khôn hơn, hiểu biết nhiều hơn, văn minh hơn” thế hệ “bại trận” này. Nhất là ở nơi đây, xứ người, ngôn ngữ và bằng cấp đã giúp họ tự tin vào khả năng và nhận định của mình. Từ đó, khi bước vào làng báo ở hải ngoại, họ thất bại ngay vì họ quên rằng làng báo hải ngoại được hình thành từ một cộng đồng tị nạn cộng sản, những người chủ báo là những người chống cộng. Khi thất bại, thay vì tìm hiểu nguyên nhân của sự thất bại thì họ quay lại đổ lỗi cho cộng đồng Việt Nam tị nạn là “lạc hậu” kém văn minh, không biết gì về tu chính án thứ nhất, về tự do báo chí, tự do ngôn luận. Thế hệ đầu tiên của Người Việt tị nạn cộng sản đã phải lê la phát báo, lê la xin từng cái quảng cáo để hình thành một làng báo chống cộng ngày nay, một “sân chơi” với những quy luật bất biến về vấn đề chống cộng. Nếu có đủ tài, tại sao “những người trẻ” không như những nhà báo đi trước, tạo một “sân chơi” cho mình từ những người có cùng một quan niệm về chính trị, về tự do phát biểu? Tại sao không đi phát báo, đi xin từng cái quảng cáo để nuôi thân và nuôi “tiếng nói” của mình như những nhà báo của thế hệ đầu tiên? Tại sao cứ cố chen chân vào “làng báo tị nạn cộng sản” chống cộng rồi “rình rập” mà viết bài thân cộng hay theo cộng? Và khi bị tẩy chay, bị lột mặt nạ thì lại hô hoán lên chê cộng đồng là … lạc hậu, là kém văn minh, là không biết tôn trọng tự do ngôn luận.
Tồi tệ hơn, vì không có đủ tài để tạo một “sân chơi” cho mình thì những người trẻ nay hoặc núp bóng một cơ quan ngôn luận thân cộng hay chạy về Việt Nam theo đuôi Việt Cộng. Cứ tưởng khi làm vậy là tát cho bọn “tay sai của giặc Mỹ” những đòn chí tử. Nhưng không, ngọn cờ vàng mà người Việt Nam không cộng sản mang theo khi ra khỏi quê hương tránh loài thú dữ vẫn tiếp tục tung bay như những ngọn đuốc soi đường cho họ tìm về với nhau, tìm về với dân tộc. Và trong mọi trường hợp, bọn thân cộng ở hải ngoại lại rúc đầu vào hang như một loài chuột.
Trong khi đó, Việt Nam ngày nay là một trong những quốc gia tồi tệ nhất về nhân quyền, về tự do báo chí, tự do Internet. Không đủ tài để tạo “sân chơi” cho mình ở hải ngoại, chê cộng đồng Việt Nam hải ngoại chống cộng quá khích sao các “bạn trẻ” này không về nước mà sống … độc lập, tự và hạnh phúc với đảng cho vui. Khi đó, các “bạn trẻ” sẽ tha hồ nhục mạ, chống đối cộng đồng Người Việt hải ngoại chống cộng và phục vụ cho đảng cộng sản mà không sợ ai phê bình hay phản đối! Có người cho rằng “những người trẻ” là cán bộ cộng sản nằm vùng. Nhưng tôi thì cho rằng các bạn chỉ là những người “nhảy núi”. Trước 1975, danh từ này thường được dùng cho các thanh viên miền Nam, nghe lời xúi dục của thành phần thứ ba, của Việt Cộng, không học hành đến nơi đến chốn, khi bị bắt lính thì… nhảy núi đi theo Việt Cộng. Số phận bọn “nhảy núi” ngày xưa ra sao thì ngày nay chúng ta ai cũng rõ. Nhưng “những người trẻ” “nhảy núi” vào giờ 25 này sẽ ra sao, ngày sau? Mà các bạn sẽ nhảy đi đâu? Sẽ về Việt Nam sống phẫn uất, làm những công dân hạng hai trong đất nước mình?
Tháng 9/2026 khép lại bằng những trận thiên tai đá tuyết sạt lỡ, lũ lụt, những cơn nóng hừng hực trên toàn thế giới. Có phải những vấn nạn “trời định” này làm cho những vấn đề “nhân định” của chúng ta trở nên nhỏ bé. Và Việt Nam vẫn dò dẫm đi vào thế giới công nghệ của thế kỷ 21 bằng những cú “khôn lỏi” của hảng hàng không VietJets. Lòng người dân Việt chắc buồn nhiều hơn vui?
Hoàng Dược Thảo